Ông Phạm Đan Quế: Về cách phân chia thời gian trong "Truyện Kiều"

Hỏi về thời gian lưu lạc của Thúy Kiều thì một độc giả bình thường cũng dễ dàng trả lời được là mười lăm năm, vì phần cuối "Truyện Kiều" nhiều lần đề cập, khi thì tác giả, khi thì nhân vật nói lên điều ấy, như lời của Vương bà:

Từ con lưu lạc quê người
Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm.

Lời của Thúy Vân:

Những là rày ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.

Và lời của Nguyễn Du:

Những từ sen ngó đào tơ
Mười lăm năm ấy bây giờ là đây…

Thế nhưng hỏi rằng, trong mười lăm năm lưu lạc ấy, nàng Kiều từng sống với các nhân vật khác trong bao lâu, thì ngay một chuyên gia về "Truyện Kiều" cũng khó có được câu trả lời chính xác.

Không phải vì các nhà nghiên cứu "Truyện Kiều" không quan tâm điều đó, mà vì một vấn đề phức tạp, khó phân định rõ ràng. Thời gian trong "Truyện Kiều" phân bố không đều, có khi chỉ một câu lục bát đã diễn tả một năm trôi qua như: Sen tàn cúc lại nở hoa / Sầu dài, ngày ngắn đông đà sang xuân. Nhưng có khi chỉ chuyện trong một ngày đêm thanh minh, tác giả đã dùng đến 204 câu, từ câu 39 đến câu 242.

Một trong những người tâm huyết với "Truyện Kiều" là ông Phạm Đan Quế đã nghiên cứu vấn đề này và trong tác phẩm "Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện" (nhà xuất bản Văn học, năm 2000, NXB Thanh niên tái bản năm 2003), trang 371, ông có cung cấp cho bạn đọc bảng tổng kết phân chia thời gian sau đây (Xem bảng ở dưới)

Nhìn vào bảng tổng kết này, trong phần chứng cớ, ta thấy khi thì tác giả dựa vào các câu Kiều, khi thì dựa vào các chương trong "Kim Vân Kiều truyện" để tính toán và phân chia thời gian trong "Truyện Kiều". Điều này có hợp lý hay không, chúng ta sẽ bàn sau. Trước hết ta đi vào một số chi tiết.

1- Thúy Kiều đi tu lần thứ ba, tức là sau khi được vớt từ sông Tiền Đường, về ở trong thảo am với Giác Duyên, ông Phạm Đan Quế cho là vài tháng. Theo tôi thì thời gian ngắn hơn thế.

Là vì: Khi Kim Trọng đi tìm Thúy Kiều, đến Hàng Châu thì được tin: Rằng ngày hôm họ giao binh/ Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền. Ta chú ý ba chữ ngày hôm nọ, tức là thời gian chỉ mới xảy ra rất gần. Sau đó Kim Trọng liền lập đàn tràng bên sông Tiền Đường để cầu hồn cho Thúy Kiều, vô tình Giác Duyên đi tới, rồi dẫn về gặp Thúy Kiều ở thảo am.

Như thế Từ Hải thất cơ chỉ là "ngày hôm nọ", tất nhiên thời gian sống ở thảo am của Thúy Kiều phải ít hơn từ "ngày hôm nọ" đến khi gặp Kim Trọng, nên cũng chỉ một vài tuần chứ không tính bằng tháng. Trong tiếng Việt, chuyện xảy ra từ vài tháng trước, không ai dùng ba chữ ngày hôm nọ cả.

2 - Nàng Kiều sống với Từ Hải giai đoạn đầu, ông Phạm Đan Quế cho rằng gần nửa năm. Theo tôi, chữ gần là thừa ra, không chính xác, mà phải nói là nửa năm, chứng cớ ở câu: Nửa năm hương lửa đang nồng/ Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Có lẽ ông Quế thêm vào chữ gần là cốt để cân đối trong phép cộng để có số thành là 15 năm!

3 -Thời gian Thúy Kiều chờ đợi Từ Hải, ông Phạm Đan Quế cho là gần ba năm, theo tôi cũng là chưa chính xác, vì: Sau khi sống với nhau nửa năm, Từ Hải chuẩn bị xuất quân đi đánh trận, Thúy Kiều đòi đi theo, Từ nói: "Đành lòng chờ đó ít lâu/ Chầy ra là một năm sau vội gì". Nghĩa là Từ Hải bảo Thúy Kiều chờ lâu nhất cũng chỉ một năm thôi.

Ông Phạm Đan Quế: Về cách phân chia thời gian trong "Truyện Kiều" ảnh 1
Bảng phân chia thời gian trong "Truyện Kiều" của ông Phạm Đan Quế.

Khi chiến thắng trở về, Thúy Kiều ra đón, Từ Hải: "Cười rằng: cá nước duyên ưa / Nhớ lời nói những bao giờ nữa không?". Tức là Từ nhắc lại lời mình đã nói với Thúy Kiều trước lúc ra đi và bây giờ đã làm đúng như vậy. Nếu hẹn Thúy Kiều lâu nhất một năm, mà gần ba năm mới trở về, thì Từ Hải trước hết phải thanh minh với Kiều về sự chậm trễ, lỗi hẹn… chứ sao có thể đàng hoàng nhắc Kiều nhớ lại lời mình đã nói như thế?

Hơn nữa, với Nguyễn Du, Từ Hải là một anh hùng, tôi không tin đại thi hào lại để anh hùng Từ Hải lỗi hẹn với Thúy Kiều đến những hai năm trời! Vậy nên, theo tôi, thời gian Thúy Kiều chờ đợi Từ Hải không quá một năm, đúng như Từ Hải đã khẳng định trước khi chia tay.--PageBreak--

4 - Ông Phạm Đan Quế đã dựa vào lời nhà tiên tri Tam Hợp nói rằng chi kỳ hội ngộ của Giác Duyên và Thúy Kiều là 5 năm để tính ra: sau khi Từ Hải thắng trận trở về, Kiều còn sống với Từ Hải gần 5 năm. Nhưng ta biết rằng, khi Từ Hải đi đánh trận, Thúy Kiều chờ đợi, nhớ cha mẹ, Nguyễn Du viết:

Chốc đà mười mấy năm trời
Còn ra khi đã da mồi, tóc sương.

Nghĩa là tính đến khi Từ Hải chưa trở về, nàng đã xa cha mẹ mười mấy năm rồi. Nếu sau khi Từ Hải  trở về, Kiều còn sống với Từ gần 5 năm nữa, thì tổng thời gian lưu lạc sẽ là: Mười mấy năm cộng với gần 5 năm cộng thêm thời gian ở thảo am (dù ngắn), thì tin chắc kết quả sẽ vượt con số 15 năm! Mặt khác, ta nhớ rằng sau khi Từ Hải chết, nàng Kiều đã khóc trước mặt Hồ Tôn Hiến:

Năm năm trời bể ngang tàng
Dấn mình đi bỏ chiến trường như không…

Hay như câu: Năm năm hùng cứ một phương hải tần cho chúng ta nghĩ rằng cuộc nổi dậy của Từ Hải là 5 năm thì sao Từ có thể sống với Thúy Kiều gần 5 năm kể từ ngày chiến thắng trở về được? Dẫn đến mâu thuẫn này không phải lỗi của người lập bảng phân chia thời gian ở trên!

Để có bảng phân chia thời gian trên, ông Phạm Đan Quế vừa sử dụng những câu Kiều của Nguyễn Du, vừa căn cứ vào sự phân chia thời gian trong "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân, như ở hồi thứ 20, "Kim Vân Kiều truyện" chỉ ra lần đầu Kiều ở lầu xanh (lầu Ngưng Bích) gần 3 năm và cuối hồi 17, nói rằng Kiều ở lầu xanh Châu Thai gần 1 năm; đầu hồi 18 nói nàng chờ Từ Hải 3 năm.

Căn cứ vào các chương của Thanh tâm Tài Nhân là đúng đắn nếu dùng để xem xét thời gian trong "Kim Vân Kiều truyện", chứ không thể dùng để xét thời gian trong "Truyện Kiều", bởi rằng, Nguyễn Du chỉ dựa vào "Kim Vân Kiều truyện" để sáng tác ra "Truyện Kiều", chứ không hề dịch "Kim Vân Kiều truyện", nên ông hoàn toàn có quyền biến đổi thời gian lâu thành chóng, ngắn thành dài.

Bởi vậy thời gian trong hai tác phẩm này không đồng nhất nhau. Vả lại, "Truyện Kiều" là một tác phẩm thơ, Nguyễn Du cũng không có ý định chỉ ra thật cụ thể số ngày, tháng, thậm chí cả số năm mà nàng Kiều từng sống với các nhân vật khác, nên chúng ta không thể biết chính xác Thúy Kiều phải ở lầu Ngưng Bích bao nhiêu năm, mà chỉ biết nàng đến đó vào mùa thu, rồi Thúc Sinh quen nàng, hoàn lương nàng vào mùa xuân (mùa xuân của năm tiếp theo hay của năm sau nữa cũng không thể biết!).

Cũng như vậy, chúng ta không thể xác định được đích xác thời gian Kiều ở lầu xanh Châu Thai là bao lâu, mà chỉ nghe lời than cuối đoạn: "Biết thân chạy chẳng khỏi trời/ Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh" mà thôi!

Lấy thời gian trong "Kim Vân Kiều truyện" làm chỗ dựa để chi phối thời gian trong "Truyện Kiều" (dùng nó làm số hạng của phép cộng để tạo nên tổng số 15 năm) là thiếu khoa học. Bởi vậy, trong bảng tổng kết trên, chỉ các mục 2.3, 4,5,6,7 là tương đối chính xác, các mục còn lại, hoặc chưa thật chính xác, hoặc không đủ tin cậy.

Ông Phạm Đan Quế đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu "Truyện Kiều", đặc biệt là các công trình so sánh "Truyện Kiều" với "Kim Vân Kiều truyện". Tuy nhiên việc ông muốn cung cấp cho bạn đọc một bảng phân chia thời gian chi tiết trong 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều, thật không dễ.

Là người từng bỏ nhiều thời gian nghiên cứu vấn đề này, có lần tôi tưởng mình có thể làm được việc phân chia đó, nhưng qua nhiều lần thất bại, cuối cùng tôi tự rút ra kết luận: không thể có bản phân chia thời gian tách bạch, chính xác để chỉ ra nàng Kiều từng sống với các nhân vật khác trong bao nhiêu lâu (có lẽ cụ Nguyễn Du cũng không muốn và không thể làm được điều này!). Bởi thế bảng phân chia thời gian của ông Phạm Đan Quế còn nhiều bất cập cũng là điều dễ hiểu

Các tin khác

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.