Nhà văn Nguyễn Đình Thi: Dồn nén bao năm để có một "Vỡ bờ"

Nguyễn Đình Thi là người đa tài. Ông vừa viết văn, làm thơ, viết lý luận phê bình lại kiêm cả soạn kịch và sáng tác nhạc. Thành tựu trên nhiều lĩnh vực có thể khiến ông được độc giả (và thính giả) gọi bằng những danh hiệu khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung, mọi người thường gọi Nguyễn Đình Thi là nhà văn. Đây là danh hiệu được giới cầm bút dùng nhiều nhất và thậm chí, có nơi có lúc nó còn được gắn với tính từ "lớn": Nhà văn lớn. Không phải không có cơn cớ...

Từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước, tác phẩm "Vỡ bờ" ra đời đã nhanh chóng được xem như bộ tiểu thuyết đồ sộ, hoành tráng nhất của ta lúc bấy giờ, không chỉ về dung lượng số trang mà cả về qui mô đề tài. Tất nhiên, cùng với thời gian, phần nào bộ sách đã chứng minh cho một ý kiến của nhà văn Nguyễn Tuân, rằng trong văn học không phải cứ "to tổ bố" là có thể trụ vững, song khách quan mà nói, đến nay bộ sách vẫn còn thu hút người đọc bởi những trang văn đẹp và sức quyến rũ trong tính cách của một số nhân vật...

"Vỡ bờ" là bộ tiểu thuyết sử thi bề thế, gồm 2 tập, dày tới trên ngàn trang in, nội dung đề cập tới cuộc sống, đấu tranh của quần chúng lao động dưới sự giác ngộ, dìu dắt của các đảng viên cộng sản trong những ngày tiền khởi nghĩa, để rồi làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất. Tên bộ tiểu thuyết là sự rút gọn của câu ngạn ngữ "tức nước vỡ bờ", và có "tiền đề" từ những câu thơ được chính tác giả viết trước đó nhiều năm (bài "Đất nước", viết trong kháng chiến chống Pháp): "Súng nổ rung trời giận dữ/ Người lên như nước vỡ bờ/ Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa".

Nguyễn Đình Thi từng có lần đùa vui, rằng ông là nhà văn trẻ nhất trong lớp các nhà văn tiền chiến. Sinh năm 1924, khi Cách mạng thành công mới ở tuổi 21, quả Nguyễn Đình Thi là nhà văn trẻ nhất trong các nhà văn tiền chiến thật. Song "hay" ở đâu không biết, với việc viết văn, nhất là để làm nên một bộ tiểu thuyết có nội dung ôm chứa cuộc sống của quần chúng lao khổ cả một thời kỳ dài trước khi chúng ta giành được chính quyền, đó lại là một "thiệt thòi" của Nguyễn Đình Thi. Điều này kể cũng dễ hiểu: Khi ấy tác giả còn nhỏ tuổi. Chính Nguyễn Đình Thi đã có lúc phải thừa nhận những thiếu hụt về vốn sống của mình.

Trong cuốn "Hỏi chuyện các nhà văn" (NXB Tác phẩm mới, 1977), nhà văn Nguyễn Công Hoan đã ghi lại lời thổ lộ của Nguyễn Đình Thi về vấn đề này như sau: "Viết tiểu thuyết về một giai đoạn lịch sử của dân tộc ta, như trong quyển "Vỡ bờ" này, nhiều lúc tôi cảm thấy ngòi bút của mình bất lực lắm. Vì vốn sống trong cách mạng ít ỏi"; "Cha mẹ tôi sinh tôi ở bên Lào, mãi đến năm lên sáu tôi mới được về nước. Mà về nước, tôi lại ít được ở nông thôn. Cho nên có nhiều thiệt thòi. Vì vậy, tôi chỉ ngơm ngớp lo cho mình giống cái chú thiếu niên nọ, ở thị thành quen, hôm về nhà quê, thấy cái lưỡi cày trên đường đất dẻo, làm lõm một vệt, thì reo lên là vết bánh xe ôtô".

Nhà văn Nguyễn Đình Thi (bên phải) và nhà văn Tô Hoài.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi (bên phải) và nhà văn Tô Hoài.

Vì thiếu vốn sống (nhất là những hiểu biết về cuộc sống của tầng lớp "dưới đáy") nên Nguyễn Đình Thi luôn tự nhủ mình "Vốn sống không dồi dào thì phải dụng công mà học". Ông kể, khi viết "Vỡ bờ", đến chương tả về mùa gặt, ông đã phải xem lại các trang sách của các tác giả trong và ngoài nước tả về việc này. Ông đọc sách của Trần Tiêu, của Lev Tolstoy, xem lại các bài viết của Xuân Thu đăng trên Báo Cứu quốc. Không dừng ở đó, để chuẩn bị thêm hình ảnh về mùa gặt, ông còn cất công về Thanh Hà (Hải Dương), vác liềm ra ruộng làm vài buổi để "lấy không khí", cũng nhân đó, thêm gần gũi với người dân quê và từ sự gần gũi đó, ông lân la hỏi được nhiều chuyện.

Tất nhiên, kiểu "học bù" như thế không thể một sớm một chiều giải quyết được tất cả sự thiếu hụt về vốn sống của một nhà văn, nhất là trong trường hợp vốn sống ấy lại được huy động cho việc xây dựng một bộ tiểu thuyết đồ sộ, lấy bối cảnh xã hội rộng lớn như của Việt Nam từ ngày Đại chiến thế giới bùng nổ năm 1939 tới Tháng Tám 1945.

Chẳng nói đâu xa, chỉ một chi tiết nhỏ - như việc nói về sư sãi trong chùa - mà có lúc Nguyễn Đình Thi còn nhầm, để rồi nhà văn Tô Hoài phải lên tiếng: "Khi viết "Vỡ bờ", Nguyễn Đình Thi đã rất giỏi về tư tưởng và triết lý, nhưng khi động đến những trang viết về nông thôn, nhiều chi tiết của anh ấy cứ lôi thôi và buồn cười lắm! Ví như đoạn Nguyễn Đình Thi tả về sãi trong chùa. Nhưng mà chùa thì chỉ có sư, làm gì có sãi, bởi sãi thì không ở chùa mà chỉ để phục vụ sư…" (xem bài "Người lục sĩ đa tài, đa tình và đa đoan" của Đặng Vương Hưng, Báo An ninh Thế giới Cuối tháng 11/2001).

Nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ, trong bộ "Nhà văn Việt Nam 1945-1975" (tập 1, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1979) cũng nhận xét, đại ý, khi miêu tả những chuyện thất nghiệp, đói cơm rách áo, những quằn quại trong tâm hồn của tầng lớp tiểu tư sản trí thức nghèo ở thành thị, Nguyễn Đình Thi khá thành công, song viết về quần chúng công nông, mặc dù đã rất cố gắng song ông không bù đắp nổi sự nghèo nàn về vốn sống (cũng chính GS Phan Cự Đệ từng nhận định rằng, trong "Vỡ bờ", Nguyễn Đình Thi đã "nhìn một số nhân vật dưới góc độ của chủ nghĩa nhân đạo - ít nhiều mang màu sắc tiểu tư sản - của những vấn đề lương tâm, danh dự, nhân phẩm, đạo đức chung chung nhiều hơn là dưới ánh sáng của quan điểm giai cấp công nhân" - một nhận định hiện chỉ làm sáng giá thêm cho Nguyễn Đình Thi mà thôi). 

Từng có thời kỳ, đã có nhà phê bình nửa thật nửa đùa cho rằng, "Vỡ bờ" là một kiểu "Chiến tranh và hòa bình" của Việt Nam. Sự thật, trong buổi nói chuyện với các cây bút tham gia Trại Bồi dưỡng những người viết trẻ ở Quảng Bá năm 1972, Nguyễn Đình Thi cũng đã tiết lộ: Khi viết "Vỡ bờ", ông tìm hiểu khá kỹ cách bố cục của "Chiến tranh và hòa bình".

Trong buổi trò chuyện cùng nhà văn Nguyễn Công Hoan (đã được ghi lại trong cuốn "Hỏi chuyện các nhà văn"), Nguyễn Đình Thi đã đưa cho nhà văn đàn anh xem một quyển vở ngả màu, trong đó, bên cạnh những hàng chữ lắt nhắt là những trang ông vẽ địa đồ, có trang ông kẻ như cái cây ghi chú các thế hệ trong một đại gia đình. Nhiều trang ông ghi các nghề phụ ở nông thôn (như nghề bẫy chuột, bẫy chim choi choi, nghề bắt rắn)…Cách làm việc tỉ mỉ như thế càng gợi ta nhớ tới Lev Tolstoy khi viết "Chiến tranh và hòa bình".

Lev Tolstoy từng kể rằng, không hiếm lần nhân vật của ông đã không làm theo ý định ban đầu của ông mà làm theo lôgic diễn biến của mạch truyện. Nguyễn Đình Thi cũng gặp tình cảnh như vậy. Có chỗ, ông thấy mình "dựng con người sai, không hợp tình, hợp lý", thế là bỏ, là viết lại. Đến như tên nhân vật, ban đầu tác giả định đặt thế này, sau lại phải đổi ra thế khác. Như một nữ nhân vật, thoạt đầu ông đặt là Duyên, sau đổi là Quyên.

"Tôi thấy đặt tên nhân vật cũng không thể tùy tiện được. Nó có vấn đề xã hội nằm ở trong" - Nguyễn Đình Thi tâm sự. Và ông giải thích: "Gia đình anh Khắc là gia đình nhà nho, có nền nếp nghiêm nghị, có chữ nghĩa, cho nên tên con trai là Khắc, con gái đặt là Quyên, ông bố là nhà nho yêu nước, đặt tên con như vậy có ngụ ý bên trong".

Bộ tiểu thuyết "Vỡ bờ" được tác giả thực hiện trong một thời gian khá dài. Không kể bản thảo đầu tiên có dung lượng chỉ khoảng bảy, tám chục trang, viết năm 1953 rồi bỏ, tập 1 của bộ tiểu thuyết "Vỡ bờ" bản sau này như ta biết được thực hiện lại từ năm 1956. Một thời gian sau đấy, để chấn chỉnh tổ chức Hội Nhà văn sau vụ Nhân văn - Giai phẩm, nhà văn Nguyễn Đình Thi được lựa chọn thay nhà văn Tô Hoài giữ cương vị Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.

Vì quá bận bịu với việc quản lý hành chính, lại thêm cả đống việc riêng của gia đình, Nguyễn Đình Thi hầu như rất ít có thời gian đầu tư cho việc sáng tác. Bộ tiểu thuyết "Vỡ bờ" vì thế được thực hiện rất ì ạch. Tới năm 1961, nhà văn mới hoàn thành tập 1. Tới năm sau thì sách được in. Từ tập 1 đến khi tác giả hoàn tất tập 2 (năm 1969), thời gian kéo dài tới 8 năm. Do hoàn cảnh giấy má thời chiến khan hiếm nên mặc dù đường đường là Tổng thư ký Hội Nhà văn, cũng phải mất một năm nữa sách mới được in ra. Như vậy, để được đọc trọn bộ tiểu thuyết, độc giả phải chờ tới…8 năm.

Về việc này, không phải Nguyễn Đình Thi không có những áy náy, thấy "có lỗi to với độc giả". Ông than thở: "Giá ngày ấy tôi viết liền một lèo cho xong toàn tập, thì bút đương đà, tôi làm việc hứng thú, say sưa biết mấy! Thành thử mang cái thai trong bụng mà mãi không đẻ được, tôi nghĩ ngợi, bứt rứt, nhiều đêm mất cả ngủ…". Và ông tự đặt câu hỏi: "Thì giờ gần như không thuộc về riêng tôi, tôi biết làm thế nào?".

Cũng theo Nguyễn Đình Thi cho biết, có những lúc ông phải thực hiện việc viết trong bệnh viện, khi đi chữa bệnh (lao). "Có điều là tôi viết một cách du kích và hết sức giữ bí mật, để che mắt các bác sĩ, y sĩ, y tá và hộ lý. Các đồng chí cấm tôi làm việc. Tôi thì cố làm ra vẻ ngoan ngoãn. Nhưng rồi cũng tìm cách để thậm thụt viết được".

Nếu như với trường hợp Nguyên Hồng, khi nhân vật Gái đen (trong bộ tiểu thuyết "Cửa biển" của ông) chết đi, nhà văn đã bật khóc nức nở, thì với Nguyễn Đình Thi, khi kết thúc trang cuối cùng của "Vỡ bờ", ông đã có cảm giác "bâng khuâng, buồn buồn, ra vào ngẩn ngơ".

Chẳng gì thì ông cũng gắn bó với các nhân vật trong bộ tiểu thuyết của mình tới gần hai chục năm...

P.K.

Các tin khác

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm với tôi. Hôm đấy, chúng tôi hẹn nhau ra Hà Nội trong một sáng cuối đông. Chuyến đi ngắn ngày nhưng đầy kỉ niệm. Buổi tối, chúng tôi lang thang cùng nhau ở Hà Nội, nói về văn chương và hành trình viết lách của nhau. Hóa ra cô gái đến từ núi đồi Gia Nghĩa (thuộc Đắk-Nông cũ) này khá đa năng với rất nhiều thể loại, và gặt hái nhiều thành công từ rất sớm.

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Theo nhánh tẻ của sông Đa Nhim, dưới chân núi Pnum Trom Ủ (thuộc xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng) có plei (buôn) Krănggọ nổi tiếng với nghề làm gốm mộc của người Churu. Theo lý giải của những người già, “Krăng” là tên ông chủ đất khi xưa, “gọ” chỉ cái nồi đất. Tên buôn làng từ thuở xa xưa đã gắn với nghề gốm.

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Tại World Cup 2026, âm nhạc lần đầu tiên trở thành tiếng nói quan trọng, song hành cùng thể thao như ngôn ngữ chung để truyền tải thông điệp đặc biệt về tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không ngừng và tôn vinh nhiều nền văn hóa đa dạng. Điều đó đã được phản ánh qua một bộ sưu tập nhạc nền đồ sộ cùng tham vọng biến sự kiện “thể thao vua” trở thành sân khấu giải trí hàng đầu thế giới.

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực Tương lai” của Việt Nam

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực tương lai” của Việt Nam

Tại Future Menus 2026, đơn vị tổ chức đã giới thiệu bốn xu hướng được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường ẩm thực toàn cầu trong thời gian tới. Đó là những xu hướng gợi mở giúp ngành ẩm thực Việt Nam phát triển. Bởi ẩm thực là một kênh hữu hiệu để thu hút du lịch và quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.

Chinh phục những địa hạt mới

Chinh phục những địa hạt mới

Vừa qua, bộ phim “Ốc mượn hồn” đã có màn ra mắt ấn tượng với khán giả cả nước. Không chỉ mang đến cho khán giả trải nghiệm điện ảnh mới mẻ, bộ phim còn là dấu ấn mới trên hành trình làm nghệ thuật của đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, sau 7 năm xa màn ảnh rộng.

Gomshow có những suất diễn định kỳ tại Hà Nội là nỗ lực của cả ê kíp.

Từ vở ballet “Gat” đến câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa

Những chuyển động ballet đương đại hòa cùng hình ảnh chiếc mũ Gat truyền thống của Hàn Quốc trên sân khấu Nhà hát Hồ Gươm trong chương trình “Mùa Hàn Quốc 2026” gợi cho chúng ta, những khán giả Việt Nam, nhiều suy ngẫm. Đó không chỉ là một đêm diễn nghệ thuật mà là một lát cắt cho thấy cách Hàn Quốc đang kể câu chuyện văn hóa của mình với thế giới - bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, mới mẻ, mang tính toàn cầu.

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

Nhà văn - dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng trong nhiều bài viết và những cuộc đàm luận sâu về chủ đề lạm dụng AI trong viết sáng tạo, ông đã cảnh báo việc lạm dụng AI trong sáng tác là hành vi tự hủy hoại sự sáng tạo của người viết, đồng thời đặt ra vấn đề trách nhiệm của tác giả, biên tập và các thiết chế văn học trước làn sóng “chữ nghĩa AI” đang lan rộng. Nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh cũng có nhiều ý kiến sâu sắc về vấn nạn sáng tạo văn chương lạm dụng AI. Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện ngắn với nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng và nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh về chủ đề này.

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

Sau một tuần tranh giải căng thẳng, cuối tuần qua, “Fjord” của nhà làm phim Romania Cristian Mungiu đã chính thức trở thành tác phẩm tiếp theo đoạt giải Cành cọ vàng danh giá tại LHP Cannes 2026. Càng đặc biệt hơn khi đây không phải thành công riêng lẻ, mà qua đó cho thấy chuỗi thành tích đặc biệt của đạo diễn này, nữ diễn viên chính Renate Reinsve lẫn nhà phân phối phim NEON.

Sân khấu cho thiếu nhi 2026: Những bước chuyển mình

Sân khấu cho thiếu nhi 2026: Những bước chuyển mình

Có thể nói, sân khấu kịch thiếu nhi 2026 đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ để bắt nhịp với xu hướng nghe nhìn của thời đại. Bên cạnh những kịch mục đa dạng như nhạc kịch, tạp kỹ, năm nay, sân khấu hè còn có sự tham gia của các loại hình nghệ thuật truyền thống như múa rối, tuồng, chèo, với sự kết hợp giữa công nghệ và di sản.

Yêu miền quê sinh thành

Yêu miền quê sinh thành

“Hãy xem rất nhiều phim tài liệu, ký sự và hãy đọc các truyện ngắn, hoặc hãy nhìn vào những tác phẩm ảnh nghệ thuật với phong cách “đời thường” của nhà báo, đạo diễn Phùng Tùng Thiện, ta có thể thấu cảm được sự tài hoa của tác giả, và niềm xúc cảm về tình đất, tình người”. Đó là lời giới thiệu của ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp trên Tạp chí Văn nghệ Đồng Tháp tháng 11/2025 về nhà báo, đạo diễn đa tài Phùng Thùng Thiện.

Chọn diễn viên cho vai diễn nguyên mẫu: Kỳ công chọn mặt gửi vàng

Chọn diễn viên cho vai diễn nguyên mẫu: Kỳ công chọn mặt gửi vàng

Mặc dù đã sắp khởi quay nhưng ê kíp sản xuất phim “Đất đỏ” vẫn chưa tìm được diễn viên ưng ý để đảm nhiệm vai nhân vật nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Với những bộ phim tái hiện những câu chuyện có thật, việc lựa chọn diễn viên cho các vai diễn có nguyên mẫu ngoài đời luôn là một thử thách không nhỏ với nhà sản xuất. Phía sau thành công của một bộ phim là bài toán khó mang tên “chọn đúng diễn viên”.

Khi âm nhạc là nguồn sống vô tận

Khi âm nhạc là nguồn sống vô tận

Mỗi năm, nghệ sĩ piano Lưu Hồng Quang đều dành thời gian trở về Việt Nam biểu diễn. Đêm độc tấu “Thanh âm vượt tầng” (Transcendental) với bộ 12 tuyệt phẩm Transcendental Etudes của nhà soạn nhạc Franz Liszt đã khiến khán phòng Học viện Âm nhạc Quốc gia lặng người xúc động. Anh từng biểu diễn trọn bộ lần đầu tiên tác phẩm này tại Việt Nam vào năm 2022, nhưng lần trở lại này của Quang lại mang đến cho người nghe những xúc cảm mới.

Bức huyết họa chứa chan niềm kính yêu

Bức huyết họa chứa chan niềm kính yêu

Không chỉ là một tác phẩm hội họa đặc biệt của mỹ thuật kháng chiến Việt Nam, bức huyết họa “Bác Hồ và ba thiếu nhi Trung - Nam - Bắc” còn là biểu tượng đẹp của lòng yêu nước, niềm tin cách mạng và tình cảm thiêng liêng mà văn nghệ sĩ Nam Bộ dành cho Bác Hồ trong những năm tháng kháng chiến gian lao.

Đến thời của phim lịch sử?

Đến thời của phim lịch sử?

Sau dòng phim kinh dị lấy cảm hứng từ chất liệu văn hóa dân gian, giới làm phim dự đoán thể loại tiếp theo “làm mưa làm gió” phòng vé Việt chính là phim lịch sử. Nhìn hàng loạt dự án chuẩn bị nối nhau ra rạp hoặc đang lên kế hoạch bấm máy, dự đoán này hoàn toàn có cơ sở.

Liên hoan Thơ Quốc tế lần thứ 2 tại Hà Nội: Thơ cất lên tiếng nói hòa bình

Liên hoan Thơ Quốc tế lần thứ 2 tại Hà Nội: Thơ cất lên tiếng nói hòa bình

Liên hoan thơ quốc tế lần thứ hai (từ ngày 20 đến 25/3/2026) với chủ đề "Giao hòa" là một cuộc đoàn tụ của những tâm hồn say đắm với cuộc đời, lặn lội từ 8 quốc gia và vùng lãnh thổ xa xôi: Ý, Hungary, Úc, Nga, Uzbekistan, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). Họ cùng có mặt tại đồi Nghệ Sĩ (Yên Bài, Hà Nội), mượn mảnh đất hình chữ S để tìm kiếm một phương thuốc chữa lành mang tên: Thi ca và Hòa bình.

Khi Hollywood không còn là nước Mỹ

Khi Hollywood không còn là nước Mỹ

Hollywood cũng là một biểu tượng của nước Mỹ như lá cờ hoa hay loài đại bàng đầu trắng. Các bộ phim Hollywood không chỉ đem lại phồn thịnh cho Hoa Kỳ mà còn tuyên truyền cho sự giàu có và tráng lệ của nước Mỹ ra khắp thế giới. Vậy nhưng ngành điện ảnh Mỹ lại đang phải đối diện với câu hỏi: "Hollywood chỉ là thương hiệu hay còn gắn chặt với một mảnh đất?".