Hội họa Việt Nam dành cho ai?

Có thể nói không ít người dân khi được hỏi có hiểu gì về hội họa Việt Nam không thì đều trả lời rằng: Không, chẳng hiểu họa sĩ vẽ gì và muốn diễn tả cái gì. Hình như họ có thế giới riêng của họ.

Chuyện với những người bán tranh

Chuyện thứ nhất:

Trong triển lãm cá nhân của một họa sĩ nổi tiếng - một trong những họa sĩ bán được nhiều tranh tại Tp HCM - có người hỏi:

- Thưa bác, phòng tranh của bác có nhiều người thích không ạ?

Ông thủng thẳng:

- Có người chê, có người khen, có người im lặng chẳng nói gì. Mà số im lặng nhiều hơn. Người ta chê hay khen thì cũng thế thôi, nhưng tôi quan tâm đến người im lặng.

- Vì sao lại thế ạ?

- Có thể họ chợt nhận ra điều gì đó nhưng chưa tiện nói ra. Hoặc có khi họ cũng chẳng hiểu gì, nói ra sợ người khác bảo mình dốt, tốt nhất là im lặng.

- Thế bức vẽ này chỉ có mấy nét, bác định vẽ gì đấy ạ?

- Tôi vẽ mùa xuân đấy.

- Thế có nhiều người hiểu không ạ?

- Tôi cũng chẳng biết người ta có hiểu không, nhưng với tôi đấy là mùa xuân, có sinh sôi, có hủy diệt. Đấy là mùa xuân của tôi, theo tôi.

Chuyện thứ hai:

Ở lứa tuổi anh, có lẽ anh là người có tranh bán chạy nhất. Đại đa số tác phẩm của anh lần lượt ra nước ngoài, 5 -7 bức treo ở khách sạn Deawo và rất nhiều bức ở các gallery trong Nam ngoài Bắc. Có năm anh bán vài trăm bức sơn mài, thuốc nước, sơn dầu. Gần 500 bức tự họa cũng lần lượt vào tay các nhà chơi tranh.

- Vì sao anh lại vẽ nhiều chân dung tự họa?

- Tôi vẽ chân dung cho nhiều người nhưng chưa bao giờ được thoải mái. Phần lớn họ đều không hài lòng vì chỉ muốn nhìn thấy mình đẹp. Điều đó hạn chế sáng tạo nên tôi nghĩ vẽ ngay cái mặt mình cho đỡ mệt.

- Thế khách hàng của những gương mặt đó là ai?

- Chủ yếu là người nước ngoài.

Tranh của họa sĩ Việt chủ yếu là để phục vụ du khách nước ngoài? (ảnh chỉ có tính chất minh họa).
Tranh của họa sĩ Việt chủ yếu là để phục vụ du khách nước ngoài? (ảnh chỉ có tính chất minh họa).

Chuyện thứ ba:

Thuộc lớp trẻ hơn nhưng anh đã sớm khẳng định được mình trong làng hội họa đương đại Việt Nam . Tên tuổi anh đã dần vượt ra khỏi biên giới Việt Nam . Tranh của anh thế nào cũng phải có cái lọ lộn ngược, cái ấm nằm ngang, rồi cái đèn dầu, bộ xương cá, mâm ngũ quả… chẳng theo một thứ tự thông thường. Có tranh chỉ là cái chấm to với những vệt xanh, đỏ, đen nhoáng nhoàng. Hỏi: "Vẽ gì?", anh bảo:

- Vẽ tình cảm của mình đối với đồ vật xung quanh.

- Thế tại sao mọi đồ vật cứ như trong thế giới nghiêng?

- Bảo người khác cảm nhận như mình là điều rất khó, nhưng nếu tranh gây được ấn tượng là tốt rồi.

Bệnh a dua khiến nhiều họa sĩ hoang tưởng

Nhìn vào mặt bằng chung có thể nhận xét hội họa Việt Nam đang thời kỳ phát triển: Các triển lãm cá nhân đều đều ra mắt, các galery mọc lên như nấm, các nghệ sĩ xuất ngoại nhiều, thị trường buôn bán tranh khá nhộn nhịp. Có điều, triển lãm tổ chức nhiều nhưng mục đích lại là để họa sĩ bán tranh chứ hiệu quả đối với công chúng rất ít. Dường như giờ đây, đối tượng phục vụ của hội họa là khách hàng chứ không phải quần chúng nhân dân. Mà khách hàng ấy là ai? Chủ yếu là người nước ngoài, Việt kiều hoặc những người đi ra nước ngoài. Để hội nhập, nhưng mục đích chính là thương mại, người ta bắt đầu vẽ theo nhiều trường phái mà nhìn tranh, không ai biết tác giả của nó là người nước nào. Người họa sĩ có thể hòa nhập vào dòng chảy hội họa thế giới, nhưng bao giờ cũng phải có ý thức giữ bản sắc riêng của mình. Chúng ta đã chẳng từng có một danh họa Nguyễn Phan Chánh - người đặt nền móng cho tranh lụa Việt Nam hiện đại, mang phong cách hội họa tân thời nhưng vẫn không rời xa nguồn mạch văn hóa dân tộc. Tranh của các họa sĩ Việt bây giờ thì sao? Họ cũng vẽ người một mắt, người có mắt nằm trên trán, rồi cả những bức với các nét vẽ nghều ngào diễn tả điều gì thì công chúng chịu, chả hiểu nổi. Thế mà lại có những người vỗ tay, nhưng tôi đồ rằng trong số đó có cả những người vỗ tay a dua, kiểu như trong truyện "Hoàng đế cởi truồng" của Andersen, thấy hoàng đế không mặc gì nhưng ai cũng khen bộ quần áo hoàng đế mặc đẹp vì không khen thì sợ bị lạc loài so với người khác. Căn bệnh a dua đã khiến cho nhiều họa sĩ hoang tưởng. Cũng có một số họa sĩ bán được tranh theo xu hướng đó, thế là họ lao vào vẽ tranh lập thể, tranh trừu tượng, tự huyễn hoặc chính mình và trở thành những "đệ nhất tinh tướng", cao giọng tuyên ngôn phải vẽ thế mới thời thượng. Bây giờ ít họa sĩ trẻ chịu miệt mài đầu tư về hình họa, vẽ kỹ như những họa sĩ Nguyễn Hữu Ngọc, Lê Huy Tiếp, Trần Hanh… Tranh của họ thường mù mờ ý tưởng, rối rắm đường nét. Nhưng họ thì tuyên ngôn phải vẽ như thế mới là lạ, nghệ sĩ thì phải phiêu. Vì thế đa số công chúng chán, không còn muốn đi xem các phòng tranh chứ đừng nói đến việc mua tranh.

Nói như thế không phải người Việt không chơi tranh, nhưng nó vẫn thuộc thú chơi cao cấp và xa xỉ nên chỉ những cơ quan lớn, công ty lớn, khách sạn mua tranh với mục đích tăng cường quan hệ thương mại, tức là tự làm sang mình để mưu cầu việc khác chứ không phải để thưởng thức nghệ thuật.

Có thể nói hiện nay giới họa sĩ là những người kiếm tiền thuận hơn cả trong giới nghệ thuật. Một khi nét vẽ của họ đã đúng "luồng" thì mỗi bức có giá hàng nghìn đô, khá hơn có thể 10.000 đô hoặc hơn thế với những bức vẽ khổ to.

Đa số họa sĩ hiện nay đã rời bỏ chức năng dùng hội họa để phản ánh cuộc sống mà chọn đề tài theo sự yêu thích của khách hàng. Xu hướng khách hàng thích gì vẽ nấy đã thu hẹp phạm vi sáng tạo của nghệ sĩ. Thậm chí có họa sĩ đi maketing trước nhu cầu của khách hàng rồi mới về "sáng tạo". Lại có cả họa sĩ tên tuổi hẳn hoi, khi thấy loại tranh đó bán chạy đã vẽ hàng loạt như kiểu sản xuất đồ mỹ nghệ. Cũng lại có họa sĩ vẽ kiểu commăng, giá cả đã thỏa thuận, khi đó chẳng còn đâu sự sáng tạo mà vẽ theo ý đồ của người bỏ tiền mua.

Đánh giá một cách thật nghiêm túc, chục năm trở lại đây, các họa sĩ Việt Nam đã tạo ra một không khí tưng bừng và dân chủ trong hội họa. Song có điều ý thức vẽ tranh để bán, nghĩa là coi mục đích thương mại hơn mục đích nghệ thuật đang trở thành ý thức chủ đạo dẫn dắt việc sáng tác của rất nhiều họa sĩ. Đối tượng và mục đích của hội họa như thế nên chẳng có gì ngạc nhiên khi hội họa Việt Nam chịu ảnh hưởng các trường phái phương Tây, nghiêng về vẽ trừu tượng và siêu thực, vẽ những cái mà người xem chẳng hiểu và chẳng giải thích được. Đó là cái bệnh của hội họa Việt Nam , dẫn tới phương pháp sáng tác xa lạ với hội họa truyền thống Việt.

Hội họa Việt Nam dành cho ai?

Hội họa Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của hội họa phương Tây vì thị trường của nó lớn và tác phẩm của nó không bị rào cản, cho nên các họa sĩ đang hướng đến vẽ phục vụ người nước ngoài. Vì thế sinh hoạt hội họa phát triển không bình thường, tranh vẽ nhiều, bán nhiều nhưng công chúng lại không hào hứng.

Có thể nói mấy năm gần đây chưa có bức tranh nào gây thành sự kiện như "Chơi ô ăn quan" của Nguyễn Phan Chánh, "Thiếu nữ bên hoa huệ" của Tô Ngọc Vân, "Em Thúy" của Trần Văn Cẩn, tranh Phố của Bùi Xuân Phái... Những bức tranh này đến giờ ai nhìn cũng vẫn thấy đẹp, khi in lại chỉ là ảnh tranh mà người ta vẫn thích. Nhưng vì đối tượng thưởng thức của hội họa đã thay đổi, quần chúng không còn là khách hàng nên trường phái tả thực không còn phát triển. Công chúng Việt Nam với tư cách khách hàng có tiền để mua tranh với giá mấy nghìn đô treo trong nhà không nhiều (mặc dù rất muốn), điều kiện kinh tế chưa cho phép mà mới chỉ dám bỏ ra vài trăm nghìn để mua ảnh tranh hoặc vì mê quá nhưng không có tiền mua tác phẩm độc quyền thì đành mua tranh sao chép, cũng là để thỏa mãn một nhu cầu làm sang cho ngôi nhà của mình. Chỉ có điều, vừa đến thăm nhà này thấy bức tranh "Mùa thu vàng" của Levitan, mấy bữa sau tới chơi nhà người bạn khác lại cũng thấy bức đó chễm trệ trên tường. Hay các bức tranh lá đỏ, đồng lúa vàng…thì nhan nhản ở các nhà. Lại cũng có những người mua tranh không do nhu cầu thưởng thức mà là mua theo kiểu a dua. Trong những ngôi nhà đắt tiền dứt khoát phải có bức sơn dầu khổ to. Nhiều khi bên một bộ tràng kỷ gỗ uốn éo cổ điển lại treo một bức tranh hiện đại thời thượng chẳng ăn nhập chút nào. Cũng lại có người sẵn sàng bỏ tiền uống một chai rượu ngoại 15 - 20 triệu đồng, nhưng không bao giờ dám bỏ ra 1.000 đô để mua một bức tranh. Rồi để lòe thiên hạ sự "sang trọng" của mình cũng chỉ mua những bức tranh sao chép trang trí cho cái mẽ của mình và nói khống giá lên. Nhu cầu khách hàng như thế đã làm cùn chức năng sáng tạo của họa sĩ. Ngay cả họa sĩ tên tuổi cũng lao vào con đường sản xuất hàng loạt, quanh đi quẩn lại vẫn vẽ giống nhau, khiến họ không vượt qua được chính bản thân họ. Cái yếu nhất của phần lớn họa sĩ trẻ bây giờ là không có gốc. Cứ thử đặt các bức tranh của họa sĩ Việt Nam cùng các bức tranh của họa sĩ nước ngoài, đố ai nhận ra tác phẩm của các họa sĩ Việt. Vì không có bản lĩnh và tài năng nên chưa kịp hội nhập, những "nghệ sĩ" sùng ngoại này đã bị hòa tan trong dòng chảy của nó và các "siêu phẩm" của họ đã trở nên xa lạ ngay trên chính mảnh đất đã nuôi dưỡng họ

Tố Lan

Các tin khác

Sân khấu cho thiếu nhi 2026: Những bước chuyển mình

Sân khấu cho thiếu nhi 2026: Những bước chuyển mình

Có thể nói, sân khấu kịch thiếu nhi 2026 đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ để bắt nhịp với xu hướng nghe nhìn của thời đại. Bên cạnh những kịch mục đa dạng như nhạc kịch, tạp kỹ, năm nay, sân khấu hè còn có sự tham gia của các loại hình nghệ thuật truyền thống như múa rối, tuồng, chèo, với sự kết hợp giữa công nghệ và di sản.

Yêu miền quê sinh thành

Yêu miền quê sinh thành

“Hãy xem rất nhiều phim tài liệu, ký sự và hãy đọc các truyện ngắn, hoặc hãy nhìn vào những tác phẩm ảnh nghệ thuật với phong cách “đời thường” của nhà báo, đạo diễn Phùng Tùng Thiện, ta có thể thấu cảm được sự tài hoa của tác giả, và niềm xúc cảm về tình đất, tình người”. Đó là lời giới thiệu của ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp trên Tạp chí Văn nghệ Đồng Tháp tháng 11/2025 về nhà báo, đạo diễn đa tài Phùng Thùng Thiện.

Chọn diễn viên cho vai diễn nguyên mẫu: Kỳ công chọn mặt gửi vàng

Chọn diễn viên cho vai diễn nguyên mẫu: Kỳ công chọn mặt gửi vàng

Mặc dù đã sắp khởi quay nhưng ê kíp sản xuất phim “Đất đỏ” vẫn chưa tìm được diễn viên ưng ý để đảm nhiệm vai nhân vật nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Với những bộ phim tái hiện những câu chuyện có thật, việc lựa chọn diễn viên cho các vai diễn có nguyên mẫu ngoài đời luôn là một thử thách không nhỏ với nhà sản xuất. Phía sau thành công của một bộ phim là bài toán khó mang tên “chọn đúng diễn viên”.

Khi âm nhạc là nguồn sống vô tận

Khi âm nhạc là nguồn sống vô tận

Mỗi năm, nghệ sĩ piano Lưu Hồng Quang đều dành thời gian trở về Việt Nam biểu diễn. Đêm độc tấu “Thanh âm vượt tầng” (Transcendental) với bộ 12 tuyệt phẩm Transcendental Etudes của nhà soạn nhạc Franz Liszt đã khiến khán phòng Học viện Âm nhạc Quốc gia lặng người xúc động. Anh từng biểu diễn trọn bộ lần đầu tiên tác phẩm này tại Việt Nam vào năm 2022, nhưng lần trở lại này của Quang lại mang đến cho người nghe những xúc cảm mới.

Bức huyết họa chứa chan niềm kính yêu

Bức huyết họa chứa chan niềm kính yêu

Không chỉ là một tác phẩm hội họa đặc biệt của mỹ thuật kháng chiến Việt Nam, bức huyết họa “Bác Hồ và ba thiếu nhi Trung - Nam - Bắc” còn là biểu tượng đẹp của lòng yêu nước, niềm tin cách mạng và tình cảm thiêng liêng mà văn nghệ sĩ Nam Bộ dành cho Bác Hồ trong những năm tháng kháng chiến gian lao.

Đến thời của phim lịch sử?

Đến thời của phim lịch sử?

Sau dòng phim kinh dị lấy cảm hứng từ chất liệu văn hóa dân gian, giới làm phim dự đoán thể loại tiếp theo “làm mưa làm gió” phòng vé Việt chính là phim lịch sử. Nhìn hàng loạt dự án chuẩn bị nối nhau ra rạp hoặc đang lên kế hoạch bấm máy, dự đoán này hoàn toàn có cơ sở.

Liên hoan Thơ Quốc tế lần thứ 2 tại Hà Nội: Thơ cất lên tiếng nói hòa bình

Liên hoan Thơ Quốc tế lần thứ 2 tại Hà Nội: Thơ cất lên tiếng nói hòa bình

Liên hoan thơ quốc tế lần thứ hai (từ ngày 20 đến 25/3/2026) với chủ đề "Giao hòa" là một cuộc đoàn tụ của những tâm hồn say đắm với cuộc đời, lặn lội từ 8 quốc gia và vùng lãnh thổ xa xôi: Ý, Hungary, Úc, Nga, Uzbekistan, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). Họ cùng có mặt tại đồi Nghệ Sĩ (Yên Bài, Hà Nội), mượn mảnh đất hình chữ S để tìm kiếm một phương thuốc chữa lành mang tên: Thi ca và Hòa bình.

Khi Hollywood không còn là nước Mỹ

Khi Hollywood không còn là nước Mỹ

Hollywood cũng là một biểu tượng của nước Mỹ như lá cờ hoa hay loài đại bàng đầu trắng. Các bộ phim Hollywood không chỉ đem lại phồn thịnh cho Hoa Kỳ mà còn tuyên truyền cho sự giàu có và tráng lệ của nước Mỹ ra khắp thế giới. Vậy nhưng ngành điện ảnh Mỹ lại đang phải đối diện với câu hỏi: "Hollywood chỉ là thương hiệu hay còn gắn chặt với một mảnh đất?".

"Thời tiết của ký ức..."

"Thời tiết của ký ức..."

"Bởi vì là một nỗi đau nên quá khứ vẫn còn sống mãi, và bởi nỗi đau quá khứ còn sống mãi về sau ta mới có được một quãng đời êm lặng, một nếp sống bình yên, một tư duy thư thả, một tấm lòng khoan thứ và một cảm giác có hậu với cuộc đời cùng số phận".

Văn học thiếu nhi từ góc nhìn của người viết trẻ

Văn học thiếu nhi từ góc nhìn của người viết trẻ

Ngày 7/5/2026 vừa qua, NXB Kim Đồng phối hợp với Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tọa đàm: "Văn học thiếu nhi từ góc nhìn của người viết trẻ" và giới thiệu về "Giải thưởng Văn học Kim Đồng".

Âm nhạc không đơn thuần chỉ là giải trí

Âm nhạc không đơn thuần chỉ là giải trí

Trong bối cảnh đời sống âm nhạc đang bị chi phối bởi nhiều chương trình giải trí, nhạc sĩ Dương Cầm lại chọn một con đường khó, ra mắt chuỗi chương trình mang tên “Phòng khách 3 thế hệ”, với mong muốn kết nối các thế hệ trong một gia đình bằng âm nhạc. Theo anh, “nghệ thuật nói chung hay âm nhạc nói riêng không đơn thuần chỉ là giải trí, mà nó còn có sứ mệnh mang đến cho con người khát khao được yêu thương, gắn kết. Đó là bản chất của nghệ thuật”.

“Mật mã Đông Dương”: Phim tình báo tái xuất màn ảnh rộng

“Mật mã Đông Dương”: Phim tình báo tái xuất màn ảnh rộng

“Mật mã Đông Dương” - bộ phim lịch sử - tình báo được lấy cảm hứng từ một số chuyên án trong hơn 25.000 bộ hồ sơ chiến sĩ tình báo viên Việt Nam sẽ được Điện ảnh CAND sản xuất trong thời gian tới. Không chỉ là món quà tri ân sự hy sinh thầm lặng của lực lượng tình báo CAND, bộ phim còn ghi dấu sự “tái xuất” màn ảnh rộng, sau gần 40 năm vắng bóng của đề tài tình báo - một trong những chất liệu đặc biệt và khó khai thác nhất của điện ảnh Việt Nam.

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.