Tình quê hương vút thành thanh âm khúc quân hành ca

Nhà thơ - nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền là một gương mặt trí thức Nam Bộ dấn thân cho sự nghiệp cách mạng. Mặc dù ông đã rời xa dương gian, nhưng nhiều tác phẩm của ông vẫn ở lại cùng cộng đồng, trong đó có ca khúc “Hát mãi khúc quân hành” đã vang vọng suốt 40 năm qua.

Diệp Minh Tuyền sinh ngày 18/8/1941 tại Mỹ Tho, Tiền Giang. Cha mẹ đều tham gia kháng chiến, nên tuổi thơ của Diệp Minh Tuyền trải qua trong chiến khu Đồng Tháp Mười và chiến khu U Minh. Năm 1954, Diệp Minh Tuyền theo gia đình tập kết ra Bắc, học ở Trường Học sinh miền Nam. Năm 15 tuổi, gom góp ký ức những ngày ngụp lặn giữa phù sa chốn bưng biền, Diệp Minh Tuyền viết ca khúc đầu tay “Em bé miền Nam”.

chan dung diep minh tuyen.jpg -0
Nhà thơ - nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền (1941-1997).

Sau khi tốt nghiệp khoa Văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Diệp Minh Tuyền nhận công tác ở Viện Văn học. Lúc ấy, cha của Diệp Minh Tuyền là ông Diệp Tư đang làm cán bộ lãnh đạo trong ngành giáo dục tại Thủ đô, nên cơ hội du học để có tương lai tươi sáng mở ra trước mắt Diệp Minh Tuyền. Thế nhưng, cuối năm 1967, Diệp Minh Tuyền lại chọn lựa con đường cam go nhất, con đường vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam với niềm tin được ông gửi gắm trong hai câu thơ “Bản đồ chẳng có đường này/ Tim ta vạch lối xóa ngày chia ly”.

Trong hồi ký của mình, Diệp Minh Tuyền viết: “Gia đình và bạn bè không có ai tin rằng tôi có thể vượt được Trường Sơn. Thân hình ốm nhom ốm nhách thì làm sao có thể mang trên mình 30 ký lô để lội bộ? Ấy thế mà tôi còn mang theo trong ba lô một cuốn từ điển Nga - Việt và vác trên vai một cây đàn guitar. Cứ mỗi khi đến một địa điểm đáng nhớ thì tôi lấy bút ghi địa danh và ngày tháng lên cây đàn”. Chính cây đàn ghi ta ấy đã giúp Diệp Minh Tuyền viết ca khúc “Người giao liên Trường Sơn” với bút danh Thanh Tuyền, đánh dấu hành trình sáng tác của một nghệ sĩ - chiến sĩ thử thách gian nan khói lửa.

Vào đến căn cứ Trung ương Cục Miền Nam, Diệp Minh Tuyền gặp thần tượng của mình là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Tháng 9/1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, người dân cả nước được nghe một ca khúc viết từ Tân Biên - Tây Ninh có tên gọi “Tình Bác sáng đời ta” mà Diệp Minh Tuyền và Lưu Hữu Phước là đồng tác giả.

Được phân công nhiệm vụ ở Tạp chí Văn nghệ Giải phóng, Diệp Minh Tuyền lao vào thực tế chiến đấu của quân dân khu vực đất thép thành đồng. Ngoài những tin tức, Diệp Minh Tuyền làm thơ về những ngày cam go “Khuya đêm vắng/ pháo giặc bắn/ rung ánh trăng” với vẻ đẹp cô giao liên nội thành “Đêm lắng nghe tiếng ca bên kia vách/ vẽ thầm mặt em trong tim anh” hoặc kỷ niệm cô du kích vùng ven “cơn gió chuyền cây cho lá rơi đầy/ phủ dấu chân em trên lối mòn năm trước.../ có phải cây này võng em từng treo/ cho lòng anh nay đong đưa nỗi nhớ”.

Diệp Minh Tuyền nhạy cảm và lãng mạn. Ngay giữa bom đạn bủa vây, ông vẫn viết cả tập thơ hơn 100 bài để tặng một nữ diễn viên múa của Đoàn Văn công Nam bộ. Đáng tiếc, mối tình ấy chỉ còn lại những dư âm trống vắng xa xôi. Tháng 5/1973, Diệp Minh Tuyền tham dự sự kiện trao trả tù nhân chính trị tại Lộc Ninh theo tinh thần Hiệp định Paris, và ông hạnh ngộ người phụ nữ đích thực của cuộc đời mình, đó là bà Huỳnh Bửu Lan. Nhỏ hơn Diệp Minh Tuyền 7 tuổi, bà Huỳnh Bửu Lan bị lưu đày 5 năm ở địa ngục trần gian Côn Đảo. Tính cách hiền hậu và tinh thần bất khuất của Huỳnh Bửu Lan đã thu hút Diệp Minh Tuyền.

Bài thơ tỏ tình của Diệp Minh Tuyền dành cho Huỳnh Bửu Lan được đặt tên “Thung lũng đêm”, viết ngày 30/5/1973: “Anh gặp em trong đêm Lộc Ninh/ Tay cầm tay dưới vòm trời yên tĩnh/ Đêm trong vườn thơm mùi quả chín/ Nghe thì thầm nhịp đập con tim/ Nụ hôn dường thơm hương sầu riêng/ Mát dịu lòng anh những đêm dài máu lửa/ Một đời gian lao đi qua một nửa/ Mới gặp em - niềm kiêu hãnh của đời anh…/ Nụ hôn anh in một dấu khuyên tròn/ Trên khuôn mặt em hằn nếp nhăn tra tấn/ Như dấu chấm hết trên trang đời vất vả/ Như nốt nhạc mở đầu chương hạnh phúc ngày mai”.

Cuối năm 1973, đám cưới Diệp Minh Tuyền và Huỳnh Bửu Lan được tổ chức giản dị ở chiến khu Chàng Riệc, như ông mô tả: “Tiếng hát cất lên chẳng muốn bay xa/ Cứ quanh quẩn đâu đây quyện tiếng cười đồng đội/ Niềm vui ấm thêm căn lều chật chội/ Hạnh phúc chừng nghiêng xuống nỗi đời riêng”. Tháng 8/1974, vợ chồng Diệp Minh Tuyền - Huỳnh Bửu Lan đón đứa con gái đầu lòng Diệp Bửu Chi. Niềm vui ấy được ông viết thành bài thơ “Con ra đời trên nền xưa đại hội quốc dân” với niềm hân hoan: “Chính nơi sinh hạ chính quyền/ Giờ con khóc tiếng đầu tiên chào đời/ Vòm xanh rừng ấy là nôi/ Võng treo dã chiến ru hời mẹ đưa”.

vo chong diep minh tuyen huynh buu lan 1973.jpg -0
Vợ chồng nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền - Huỳnh Bửu Lan ở chiến khu năm 1973.

Non sông thống nhất, Diệp Minh Tuyền bước vào cuộc sống mới, như ông bộc bạch trong hồi ký: “Ngày 5/5/1975, tôi cùng vợ và đứa con gái 10 tháng tuổi, rời khu rừng già Tây Ninh về lại Sài Gòn sau hơn 30 năm xa cách. Thế là tôi đã để lại rừng già sau lưng mình hơn 8 năm sốt rét, đói cơm, thiếu muối, những tiếng bom rền và giai điệu êm đềm của những bài ca”.

Có được hòa bình như mong ước, Diệp Minh Tuyền thỏa sức sáng tạo cả nhạc lẫn thơ. Sự nghiệp âm nhạc của Diệp Minh Tuyền bật sáng với những ca khúc “Bài ca người lính”, “Tình biển”, “Tình cờ”... Còn sự nghiệp thi ca của Diệp Minh Tuyền chinh phục độc giả với các tập thơ “Đêm châu thổ”, “Tình ca nơi cuối đất”, “Hòa âm đỏ”... Đặc biệt, ca khúc “Hát mãi khúc quân hành” được Diệp Minh Tuyền viết năm 1984, đã đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác âm nhạc về đề tài Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau bốn thập niên, “Hát mãi khúc quân hành” vẫn vang lên trong những ngày lễ lớn và trong những cuộc gặp gỡ nồng ấm “Đời mình là một khúc quân hành/ Đời mình là bài ca chiến sĩ/ Ta ca vang triền miên qua tháng ngày/ Lượn bay trên núi rừng biên cương đến nơi đảo xa/ Mãi mãi lòng chúng ta ca bài ca người lính/ Mãi mãi lòng chúng ta vẫn hát khúc quân hành ca/ Dù rằng đời ta thích hoa hồng/ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng/ Ta yêu sao làng quê non nước mình/ Tình quê hương vút thành thanh âm khúc quân hành ca”.

Tổ ấm của Diệp Minh Tuyền - Huỳnh Bửu Lan càng trọn vẹn hơn, khi họ có thêm cô con gái thứ hai Diệp Bửu Diệp. Thế nhưng, Diệp Minh Tuyền cũng thấm thía hệ lụy “Cơn sốt rét vẫn hành ta dai dẳng/ Đòn giặc tra vợ ta vẫn còn đau”, nên ông rất trân trọng người đàn bà cùng mình thề nguyền trăm năm: “Rời rừng về lại phố/ Giữa huyên náo cuộc đời/ Dáng em gầy khắc khổ/ Vẫn choán đầy hồn tôi”. Hình ảnh Huỳnh Bửu Lan trở thành một nguồn cảm hứng thường trực trong thơ Diệp Minh Tuyền.

Tình yêu của Diệp Minh Tuyền dành cho hiền thê cứ trải dài trong thơ ông theo từng ngày tháng. Năm 1981, ông viết: “Hạnh phúc thường không đến bằng lời/ Nó lặng lẽ như em từng lặng lẽ/ Lặng lẽ suốt một thời tuổi trẻ/ Như giờ em lặng lẽ cắm hoa vào bình, rồi lặng lẽ đến ngồi bên anh”. Năm 1983, ông viết: “Cho anh thường trú ở tim em/ Vĩnh viễn nơi đây chốn êm đềm/ Đã qua trăm núi và trăm suối/ Mới biết nơi này nào dễ quên/ Anh chẳng thích làm người tạm trú/ Ghét cay con bướm đậu rồi bay/ Dẫu sống tự do trong vũ trụ/ Vẫn cần hộ khẩu giữa tim này”.

Năm 1986, ông viết: “Đèo nhau ta dạo phố vui/ Thong dong xe đạp ngược xuôi dòng đời/ Chở theo khúc khích tiếng cười/ Chuyện trò như thể không người xung quanh/ Tình nghèo nên không trôi nhanh/ Tà tà theo bánh xe lăn suốt đường/ Ai cần qua trước, ta nhường/ Tình yêu là chuyện dặm trường bền lâu/ Anh đằng trước, em đằng sau/ Hãy ôm cho chặt bên nhau suốt đời”. Năm 1996, ông viết: “Em chạm khẽ cho vườn anh run rẩy/ Lá vàng rơi thông điệp của mùa thu/ Tình yêu bỗng giữa lòng anh thức dậy/ Nghe mơ hồ như một khúc nhạc ru”.

Ngày 21/11/1997, cơn bạo bệnh đã buộc nhà thơ - nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền rời khỏi cõi người mến thương ở tuổi 56, khi ông vẫn đang tràn trề năng lực sáng tạo. Một trong những bài thơ cuối cùng ông viết cho Huỳnh Bửu Lan vẫn đề cao sự thủy chung: “Khi phong hóa có chiều xuống cấp/ Tình yêu không bảo đảm bằng vàng/ Ta hãy lấy tim mình thế chấp/ Giữ tình yêu - vốn cố định của đời ta”.

Chỉ hai năm sau khi vĩnh biệt người chồng tài hoa, bà Huỳnh Bửu Lan cũng giã từ dương gian ở tuổi 51. Thế nhưng, mối duyên phu thê chỉ vỏn vẹn một phần tư thế kỷ của họ vẫn rộn ràng trong giai điệu “Tình cờ” mà Diệp Minh Tuyền gửi lại cuộc đời chúc phúc cho những đôi lứa khác: “Tình yêu như tiếng hát bỗng cất cánh trong tim tình cờ/ Tình yêu như tiếng sét bỗng giáng xuống nào ai có ngờ/ Phút chốc vai kề vai, phút chốc tay cầm tay/ Tình yêu như thế cứ đến, như đã hẹn bao giờ”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.