Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Đài là tiếng nói thiết tha của dân tộc Việt Nam

Nhà thơ Trần Đăng Khoa gắn bó với Ban Văn học Nghệ thuật - Đài Tiếng nói Việt Nam 10 năm và để lại nhiều dấu ấn đậm nét qua những chương trình văn nghệ. Ông có nhiều đóng góp và phát hiện nhiều tác giả thông qua các chương trình mà ông dày công biên tập, chọn lọc.

Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam (7/9/1945 - 7/9/2025), phóng viên Chuyên đề Văn nghệ Công an có cuộc trao đổi với nhà thơ Trần Đăng Khoa về những năm tháng ông công tác ở Đài.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Đài là tiếng nói thiết tha của dân tộc Việt Nam -0

- Thưa nhà thơ Trần Đăng Khoa, sau nhiều năm xa rời Ban Văn học Nghệ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam, nhân kỉ niệm 80 năm Ngày thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam, ông có thể chia sẻ kỷ niệm của mình về những năm tháng công tác tại Ban Văn học Nghệ thuật?

+ Tôi gắn bó với Đài từ rất lâu, có lẽ là từ thuở ấu thơ trong những năm tháng chiến tranh mù mịt bom đạn. Tôi gắn bó chặt chẽ với tình hình trong nước và quốc tế và giúp cho tôi biết được những thông tin ấy chính là nhờ Đài Tiếng nói Việt Nam. Hồi đó đài không như bây giờ, có nhiều phương tiện có thể nghe được đài.

Tôi tiếp xúc với đài qua loa truyền thanh, cái loa hồi đó bán 25 đồng, 25 đồng bằng mấy tháng lương. Cái loa chủ yếu để báo động cho dân làng, khi nghe loa thông báo thì nhân dân xuống hầm trú ẩn rồi đài lại báo yên. Làn sóng của đài rất thân thuộc với nhân dân.

Hồi đó nhà thơ Ngô Viết Sinh có viết bài thơ: "Chiếc loa nho nhỏ/ nằm trên sàn nhà/ ngày nằm ngoan ngủ/ trưa chiều hát ca/ Miền Nam thắng lớn/ Giặc Mỹ đi càn/ tuýt tuýt tuýt tuýt/ đài báo giờ rồi/ bạn ơi hãy nhớ/ ta đi học thôi". Cái đài đã gắn bó với tuổi thơ của tôi như thế đó. Một vùng ký ức tuổi thơ đẹp, chan chứa tình yêu quê hương và đất nước cũng bắt đầu từ những chương trình trên đài là thế đó. Nó ngấm vào tôi và cả những người dân quê tôi.

- Nhà thơ Trần Đăng Khoa được mệnh danh là thần đồng, ông nổi tiếng từ năm lên 10 tuổi và những bài thơ đầu tiên được cả nước biết đến thông qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam. Đó có phải là lý do mà sau này ông chọn Đài là nơi công tác?

Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Đài là tiếng nói thiết tha của dân tộc Việt Nam -1
Nhà thơ Trần Đăng Khoa (thứ 2 từ trái sang) cùng các nhà thơ Thuận Vy, Vũ Duy Thông, Phạm Tiến Duật.

+ Đúng như vậy, thơ tôi đã bám sát trên từng nhịp thở của đất nước và qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam. Chính vì thế khi tôi rời quân ngũ, tôi đã về Đài Tiếng nói Việt Nam, công tác tại Ban Văn học Nghệ thuật. Có thể nói đây là địa chỉ rất quen thuộc và gắn bó với nhân dân. Thơ tôi lần đầu tiên được phát trên làn sóng.

Người đầu tiên nói về thơ tôi đầu tiên không phải là nhà thơ Xuân Diệu mà là nhà phê bình văn học Hoài Thanh. Chương trình văn nghệ chủ nhật, ông Hoài Thanh đã phân tích thơ tôi, cách vận dụng vốn ca dao, tục ngữ vào thơ lục bát như thế nào. Tôi còn nhớ đêm đấy trăng sáng vằng vặc, nhà tôi tắt hết đèn và trải chiếu ra giữa sân ngồi dưới bóng trăng uống nước và nghe đài. Cùng với gia đình tôi còn có nhiều bà con ở quanh xóm cũng đến nghe chương trình. Hồi đó Nhà xuất bản Kim Đồng tặng tôi một cái đài, đó là nhuận bút của tập thơ "Bông hồng đỏ" và cả xóm nghe chương trình từ cái đài nhỏ xinh ấy.

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã phân tích bài thơ "Mẹ ốm" rất sâu sắc, bài thơ này do nghệ sĩ Vũ Kim Dung trình bày. Từ đó trở đi các chương trình văn nghệ rất thân thuộc với tôi và gia đình. Chúng tôi đã háo hức đón chờ những chương trình như văn nghệ thiếu nhi, tiếng thơ, kịch sân khấu truyền thanh, câu chuyện cảnh giác…Những đứa trẻ ngày ấy lớn lên trên đồng ruộng rạ rơm, con trâu, cây lúa và món ăn tinh thần là những buổi nghe đài vô cùng hấp dẫn, lôi cuốn, khiến tâm hồn tôi được tưới tắm mát lành. Đến bây giờ tôi vẫn giữ thói quen nghe đài, một thói quen với tôi là vô cùng hữu ích.

- Thưa ông với vai trò là biên tập viên các chương trình văn nghệ và tiếng thơ, sau này đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Văn học Nghệ thuật ông đã có đóng góp như thế nào?

+ Tôi gắn bó với Ban văn học Nghệ thuật 10 năm, từng đảm nhiệm biên tập chương trình Văn nghệ, Tiếng thơ, rồi với cương vị Trưởng ban, chúng tôi lúc bấy giờ đã thực hiện nhiều chương trình hay cho đến tận bây giờ như "Tìm trong kho báu", "Kể chuyện và hát ru cho bé", "Những bông hoa đẹp".

Trước đây Bác Hồ luôn quan tâm đến những chương trình dành cho thiếu nhi vậy nên chúng tôi đã chú tâm vào nhiều chuyên mục dành cho lứa tuổi này. Nhắc lại câu nói của Bác Hồ "Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp", và chương trình "Những bông hoa đẹp" đã đồng hành trong một thời gian dài trong kháng chiến và cả sau này nữa.

Một chương trình mà tôi rất trăn trở và tôi đã trình bày với Tổng giám đốc Vũ Hiền là phải làm những chương trình thật hay cho thiếu nhi, chương trình "Kể chuyện và hát ru cho bé" và "Văn nghệ thiếu nhi" ra đời như thế. Bởi vì, tôi nghĩ rằng, trẻ con phải được lớn lên trong lời ru của bà, của mẹ và đó là cái nôi văn hóa của dân tộc ta thể hiện qua mỗi câu hát ru. Bản thân tôi chính nhờ những lời ru của mẹ đã đưa tôi đến với văn chương. Tuy nhiên, càng ngày lời ru càng phai mờ đi, các bà mẹ ít hát ru cho con, do vậy chương trình này đã bồi đắp cho tuổi thơ kho tàng truyện cổ và lời ru.

Chương trình này trải qua nhiều năm tháng và nhận được sự yêu thích của trẻ em, thấm trong mỗi gia đình. Dẫu bây giờ mạng xã hội rất phát triển nhưng vẫn không gì có thể thay thế được Đài Tiếng nói Việt Nam. Tôi nghe Đài thường xuyên, nghe để nhớ lại đồng nghiệp, nhớ đến những chương trình mình đã từng làm, đón chờ những tác phẩm hay lên sóng. 10 năm gắn bó với Đài, đó là quãng thời gian không dài nhưng đủ để tôi cảm nhận và yêu mến, gắn bó và trân quý tiếng nói Việt Nam, tiếng nói dân tộc.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Đài là tiếng nói thiết tha của dân tộc Việt Nam -2
Nhà thơ Trần Đăng Khoa và nhà thơ Nga Blaga Dimitrova.

- Những kỷ niệm về Ban văn học Nghệ thuật mà nhà thơ Trần Đăng Khoa kể thật xúc động, ông đã gắn bó với nhiều chương trình "đóng đinh" của làn sóng. Có điều gì ông nhắn gửi với đồng nghiệp - những người đang tiếp tục công việc mà ông đã từng cống hiến?

+  Gần đây, tôi cũng đã trao đổi với các anh chị rằng, nên số hóa tất cả các chương trình từ trước đến nay, để lưu giữ một kho tàng vô giá. Những băng quý giá đang được lưu giữ trong kho băng của Đài như những bài thơ do chính Bác Hồ đọc, hay là băng đọc truyện do chính nhà văn Nguyên Hồng thể hiện, băng Văn Cao… Khi mà công nghệ phát triển thì việc gìn giữ những tư liệu quý ấy càng dễ dàng hơn, tôi nghĩ kho băng của Đài là một kho tư liệu quý giá đến muôn đời.

Thêm nữa, với những tác phẩm văn học kinh điển, các anh chị biên tập viên có thể phát lại trong những thời điểm thích hợp. Những bộ tiểu thuyết đồ sộ của thế giới - ngày ấy chúng tôi đã biên tập kỹ càng và khi cần, chúng ta phát lại cho thính giả yêu đài hôm nay nghe lại. Tôi nghĩ rằng, tiếng nói của Đài Tiếng nói Việt Nam luôn đồng hành cùng nhân dân, đó là tiếng nói thiết tha của dân tộc Việt Nam.

- Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ Trần Đăng Khoa.

Vân Khánh (thực hiện)

Các tin khác

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.