Người viết Quốc ca

"Người viết Quốc ca" là bộ phim tài liệu do Hãng phim Tài Liệu và Khoa học Trung ương sản xuất năm 2025 vừa ra mắt nhân dịp kỷ niệm 102 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn Cao. Đạo diễn trẻ tài hoa Đặng Linh và ê kíp của chị đã nỗ lực không ngừng để thực hiện thành công bộ phim này.

Lần đầu tiên, chúng ta có một bộ phim tài liệu về một nhạc sĩ xuất sắc của nền âm nhạc Việt Nam, có độ dài 115 phút, được làm một cách công phu, với phong cách hiện đại và gây xúc động, có sức lôi cuốn mạnh mẽ đặc biệt, mở ra một cách nhìn mới về ưu thế và sức mạnh của phim tài liệu nước nhà.

c%3fnh phim ngu%3fi vi%3ft qu%3fc ca1.jpg -0
Cảnh trong phim “Người viết Quốc ca”.

Bộ phim, bằng hệ thống tư liệu hình ảnh quý giá, được các nhà làm phim trực tiếp quay và thu thập từ nhiều nguồn trong và ngoài nước, cùng với nghệ thuật dàn dựng công phu, đã khéo léo tái hiện một cách sinh động cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của nhạc sĩ, thi sĩ, họa sĩ Văn Cao.

Bộ phim mở ra bằng hình ảnh bà Nghiêm Thúy Băng, vợ nhạc sĩ Văn Cao với sự hồi nhớ của bà về hình ảnh người chồng quá cố. Và tiếp theo, bằng cách lần theo ký ức của những người thân trong gia đình (họa sĩ Nghiêm Thành, con gái Hương Hương), bằng lời kể và thẩm bình của nhạc sĩ Doãn Nho, Đoàn Bổng, ca sĩ Ánh Tuyết, nhà phê bình âm nhạc Trịnh Minh Châu, nhà thơ Thanh Thảo, Bằng Việt, Thiên Sơn.

Qua những khớp nối, những đường dẫn, câu chuyện cuộc đời của Văn Cao được đạo diễn tái hiện một cách chi tiết bằng những hình ảnh phong phú, sinh động. Thành công quan trọng của bộ phim này là đã không né tránh bất kỳ một sự kiện quan trọng nào trong cuộc đời nhiều thăng trầm của Văn Cao. Chính điều đó làm nên chiều sâu và sự độc đáo, để lại ấn tượng đậm nét trong người xem.

Qua bộ phim, ta hiểu được cội nguồn sáng tạo của Văn Cao. Đó là những năm tuổi thơ ảnh hưởng âm nhạc của nhà thờ thiên chúa tại Hải Phòng. Lớn lên ông xê dịch qua nhiều nơi, trải nghiệm trong bao biến thiên của xã hội những năm 30, 40 của thế kỷ 20 và tiếp cận nền tân nhạc từ thuở sơ khai.

Từ 16 đến 18 tuổi, Văn Cao đã viết ca khúc "Thiên Thai", "Suối mơ", "Buồn Tàn thu", đó là những ca khúc lãng mạn tuyệt đẹp cả về ca từ và giai điệu, tạo nên dấu ấn độc đáo, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của dòng tân nhạc Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8.

Nhưng rồi, khi chứng kiến cảnh thực dân Pháp đàn áp đồng bào ta, với lòng yêu nước nồng nàn và tình yêu con người sâu sắc, Văn Cao tham gia vào đội ngũ Việt Minh, vừa hoạt động cách mạng vừa sáng tác. Chỉ trong mấy năm, từ một nhạc sĩ nổi bật của dòng nhạc lãng mạn, ông chuyển sang viết những bản nhạc mang màu sắc hùng ca, mà tác phẩm tiêu biểu nhất là "Tiến quân ca".

"Tiến quân ca" được hàng vạn người yêu thích và trở thành bản nhạc có sức mạnh lay chuyển tâm can con người trong cuộc Cách mạng Tháng 8. Sau đó tác phẩm này được Bác Hồ chọn làm Quốc ca, được cử hành trong ngày lễ tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trở thành một bản nhạc thiêng của dân tộc, mang hùng khí một thời đại và được nhân dân yêu mến. Sau "Tiến quân ca", Văn Cao tiếp tục sáng tác nhiều ca khúc nổi tiếng: "Trường ca Sông Lô", "Tiến về Hà Nội", "Làng tôi", "Ngày mùa"…

Những tác phẩm của ông chính là đỉnh cao bậc nhất và có sức lôi cuốn mãnh liệt với đông đảo người nghe trong kháng chiến chống Pháp và mãi đến ngày nay. Trong âm nhạc Văn Cao vừa nói lên được hùng khí một thời đại, vừa bắt được điệu tâm hồn của đại chúng, được quân và dân ta hết lòng yêu mến. Riêng ca khúc "Mùa xuân đầu tiên" viết sau khi đất nước thống nhất đã trở thành một tác phẩm mở đầu cho dòng âm nhạc về hòa bình với những tư tưởng sâu sắc và giai điệu đẹp đẽ.

c%3fnh phim ngu%3fi vi%3ft qu%3fc ca2.jpg -1
Bộ phim tài liệu ra mắt dịp kỷ niệm 102 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn Cao.

Về thơ, Văn Cao từ là người sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn trước Cách mạng Tháng 8, ông đã nhanh chóng chuyển sang khuynh hướng hiện thực, trong đó có trường ca "Những người trên cửa biển" trở thành tác phẩm rất nổi tiếng tái hiện những mảng hiện thực nóng bỏng của đời sống, nói lên những mặt trái trong đội ngũ những người cách mạng và được đánh giá có tính phản tỉnh và dự báo rất lớn.

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, thơ Văn Cao nói lên những suy tư sâu sắc về thân phận, về đời sống cá nhân và với những bài thơ ngắn, ý thơ cô đúc và hướng nội. Giai đoạn sau, Văn Cao không chỉ dừng lại ở khuynh hướng hiện thực mà còn chuyển dần sang tượng trưng, thậm chí có những tác phẩm mang màu sắc siêu tưởng. Điều đó cho thấy Văn Cao luôn là một nhà tiên phong trong nghệ thuật, luôn nắm được và phản ánh đúng cái hơi thở của thời đại.

Trong đời thường Văn Cao bình dị và sâu lắng. Cuộc đời ông trải những cung bậc phong phú. Từ lúc hăng hái đi theo cách mạng, trở thành người nghệ sĩ hoạt động sôi nổi, đến những năm về già, sống trong nghèo đói, trong sự hiểu lầm và chật hẹp của những định kiến một thời.

Đạo diễn Đặng Linh đã đưa vào phim những hình ảnh đầy tính biểu cảm về nhạc sĩ vĩ đại trong bước đi chậm rãi, dáng đứng liêu xiêu, những cử chỉ tinh tế, khuôn mặt nhăn nheo đầy tâm trạng, đôi mắt với ánh nhìn xa vắng hay những phút giây tư lự và đặc biệt cảnh nhạc sĩ tấu lên những âm thanh hùng tráng từ chiếc đàn cũ kỹ trong cảnh bom đạn gầm réo bên ngoài.

Cảnh ngôi nhà cũ kỹ bong tróc và rêu phong ở phố Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội, cảnh những con đường lá rụng mùa thu và những hồi ức về những ngày tháng cũ của người nghệ sĩ… Chính những hình ảnh ấy đã trở thành hồn cốt của bộ phim, tạo nên tính chân thực, chiều sâu và sức hấp dẫn của tác phẩm.

Bộ phim là một tổng phổ của những sắc màu đa dạng. Các tác phẩm âm nhạc xếp vào hàng kiệt tác của Văn Cao, từ những ca khúc lãng mạn du dương, đến những bản hùng ca mang hùng khí một thời đại đã được tấu lên từ đầu đến cuối phim làm nền cho câu chuyên cuộc đời của nghệ sĩ.

Bộ phim không sử dụng lời bình mà thu âm trực tiếp lời của nhân vật và lời của người dẫn chuyện. Các nhân vật được phỏng vấn, mỗi người giữ một vai trò cụ thể. Các điểm nhìn liên tục được luân chuyển tạo nên sự vận hành của câu chuyện và sự soi chiếu hình tượng Văn Cao ở những góc độ khác nhau. Từ đầu đến cuối tác phẩm, biên kịch và đạo diễn đã nắm lấy những điểm cốt yếu trong cuộc đời của người nghệ sĩ để kiến tạo đường dây sự kiện dẫn người xem vào những vùng mờ lấp, những bí ẩn nội tâm, những phút thăng hoa trong sáng tạo.

Bên cạnh việc tái dựng cuộc đời nhạc sĩ thiên tài Văn Cao, bộ phim cũng phản ánh cả những nét lớn của thời đại mà Văn Cao đã sống. Từ đó, giúp người xem không chỉ hiểu được những bước chuyển của lịch sử làm nền cho các kiệt tác âm nhạc Văn Cao mà còn giúp hiểu về những cơ sở xã hội cũng như tác động của tác phẩm Văn Cao đối với đời sống.

"Người viết Quốc ca" đánh dấu một cách làm phim tài liệu hiện đại và tư duy mới của các nhà làm phim, vượt thoát khỏi những hạn hẹp cũ, không né tránh những hiện thực khó nói và nhạy cảm. Tác phẩm thể hiện tài năng và tâm huyết của đạo diễn trẻ Đặng Linh và ê kíp làm phim. Những người trẻ như chị đã góp phần làm thay đổi diện mạo và tư duy làm phim tài liệu nước nhà, mở ra những niềm hy vọng cho tương lai điện ảnh Việt Nam.

Thiên Sơn

Các tin khác

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.