“Hạn mạn du ký” -  một khúc sông trong

Có lẽ, trong lịch sử văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX về mặt thể loại, với các thể ký nói chung và thể du ký nói riêng, Tiêu Đẩu - Nguyễn Bá Trác qua "Hạn mạn du ký" là tác phẩm đầu tiên ra mắt công chúng (1919 - 1920). Sách vừa được Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - NXB Hội Nhà văn phát hành 2024.

Nỗi lòng một thanh niên yêu nước

"Hạn mạn du ký" gồm 14 chương, được viết bằng Hán văn, đăng trên Tạp chí Nam Phong từ số 22/4/1919. Sau đó tác giả tự dịch thiên du ký của mình ra chữ Quốc ngữ để đăng lại trên Tạp chí Nam Phong từ số 38 đến số 43 năm 1920 và được Đông Kinh ấn quán tại Hà Nội in thành sách xuất bản năm 1921. Tác phẩm ghi lại hành trình kéo dài sáu năm (từ 1908 đến 1914) của Nguyễn Bá Trác qua các nước Thái Lan, Trung Hoa, Nhật Bản. Trong đó thời gian lưu trú tại Nhật Bản đã để lại cho tác giả nhiều ấn tượng sâu đậm.

Còn bản in Quốc ngữ "Hạn mạn du ký" đăng trên Tạp chí Nam Phong đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Khi bàn về tác phẩm này, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ đánh giá trong "Việt Nam văn học sử giản ước tân biên" (1965):

“Hạn mạn du ký” -  một khúc sông trong -1
Tác giả Nguyễn Bá Trác (1881 - 1945).

"Câu Việt văn khá mạch lạc suông sẻ, đôi chỗ đăng đối du dương. Những tình tiết li kì của cuộc phiêu lưu nơi đất lạ đã đem lại cho câu chuyện nhiều vẻ hấp dẫn. Nhất là đối với các Nho gia ta khi ấy từng ôm cái mộng Đông Du; nếu không thì trí não cũng đầy kỷ niệm văn chương về danh nhân, danh thắng Trung Hoa, đọc "Hạn mạn du ký" của Nguyễn Bá Trác thật là thú vị. Cả nữ giới cũng hoan nghênh lắm.

Bà Tương Phố từng kể hay gối Nam Phong ở đầu giường để đọc du ký của ông Quỳnh (Phạm Quỳnh), ông Trác mà mộng du đất Pháp, đất Tàu. Ông Dương Quảng Hàm khi làm sách "Quốc văn trích diễm" (1925) dành hẳn cho thiên du ký của Nguyễn Bá Trác hai bài trích, đó là Đường đi Hương Cảng và Điếu Kim Lăng, đủ thấy độc giả đương thời đã thích thưởng thức dường nào".

Tác giả Nguyễn Bá Trác tự nhận đây chỉ là "Lời ký của một người đi chơi phiếm" ngay dưới phụ đề Hán văn. "Đi chơi phiếm" mà vô cùng vất vả. Khi thì lẩn trốn chui lủi trong rừng rậm miền Trung, lúc phải giả làm tu sĩ Phật giáo ở Phú Yên, khi sang Thái Lan phải nằm trong hầm tối chật hẹp dưới tàu thủy, có lúc đối diện với cái sống cái chết trong chiến tranh ở Trung Quốc hay bị trinh thám Nhật theo dõi sát sao,… May thay, cuộc "Đi chơi phiếm" dù khó khăn, vất vả song tác giả đi đến đâu cũng có quý nhân phù trợ, tận tình giúp đỡ.

Thực tình, "Hạn mạn du ký" không phải "Lời ký của một người đi chơi phiếm", không phải thú rong chơi của một thanh niên ưa xê dịch. Đây là nỗi lòng của một thanh niên yêu nước ở tuổi ngoài 20 đầy nhiệt huyết, trăn trở với vận mệnh dân tộc, đã theo tiếng gọi của Tổ quốc mà rời nước sang Đông Du bên Nhật Bản đặng tìm con đường giải phóng dân tộc, cứu dân cứu nước khỏi nô lệ lầm than dưới ách cai trị thuộc địa của thực dân Pháp. "

Hạn mạn du ký" qua dấu chân tác giả còn chứa đựng những khát vọng lớn lao, những ước mơ cháy bỏng về một quốc gia hùng cường qua tấm gương Nhật Bản mà đến hôm nay vẫn là mơ ước của người Việt Nam. Như nhà văn Nguyễn Tuân từng nói trong "Chuyện nghề" (NXB Tác phẩm mới, 1986) thì những tác phẩm như "Hạn mạn du ký" góp phần "thức tỉnh hồn nước và đổi mới hơn lên cái lòng yêu nước cũ".

Không chỉ có giá trị về mặt tư liệu, "Hạn mạn du ký" còn rất giàu tính văn chương. Qua "Hạn mạn du ký", bạn đọc nhận thấy tác giả bước đầu đã cách tân chữ viết, cách hành văn như đánh giá nêu trên của nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ,... Tất nhiên, là nhịp cầu nối giữa các nhà Nho cũ quen dùng Hán văn xưa với một lớp bạn đọc mới đang dùng văn Quốc ngữ trên báo chí, Nguyễn Bá Trác vẫn dùng nhiều từ cổ không dễ đọc với người đọc thế kỷ XXI hôm nay; song bằng việc đổi mới chữ Quốc ngữ và ngữ pháp của tác giả "Hạn mạn du ký" đã góp phần vào quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. PGS.TS Võ Văn Nhơn - Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) nhận định:

"Hạn mạn du ký" không chỉ là cảm xúc còn lại sau một chuyến đi dài như ông nói trong lời mở đầu du ký. Khác với cái tựa đề nhẹ tênh, du ký này không chỉ là những ghi chép của một khách du lịch mà nặng trĩu tấm lòng của một trí thức đang khát khao cầu tìm tri thức để có thể giúp ích cho đất nước, dân tộc: "Thế giới như ngày nay, phong trào cạnh tranh càng ngày càng kịch. Đại trượng phu sinh ở thời, cũng nên đi cho cùng bốn bể, học cho khắp năm châu, thu lấy mây Mỹ mưa Âu mà tẩm nhuận cho thiên hạ". Đó không phải là "lời ký của một người đi chơi phiếm" mà là sự trải nghiệm sâu sắc, là những suy nghĩ gan ruột của một trí thức luôn đau đáu trước sự lạc hậu của đất nước, là tinh thần "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" mà nhà ái quốc Phan Chu Trinh đã từng đề xướng.

Tác phẩm còn ghi nhận tình cảm sâu nặng đối với đất nước của những người con đất Việt vì hoàn cảnh phải bôn ba nơi xứ người. Đó là tình yêu đất nước rất cảm động của mẹ con một bà cụ người Việt lưu lạc sang Trung Quốc, trong đó có tình cảm rất đáng trân trọng của con gái bà cụ đối với Nguyễn Bá Trác, một người con gái tuy chỉ có nửa dòng máu Việt nhưng ý thức rất sâu sắc về quê mẹ. Đó là giọng hát bi tráng của Nguyên Quân trong bài "Nam phương ca khúc" (Hồ trường) khi say rượu nhớ về quê hương ở phương Nam xa lắc, mịt mù" (Võ Văn Nhơn: "Hạn mạn du ký" của Nguyễn Bá Trác - một thiên ký sự về các nước Đông Á đầu thế kỷ XX).

Một quá khứ mạo hiểm

Về tác giả của "Hạn mạn du ký": Nguyễn Bá Trác, bút hiệu Tiêu Đẩu, sinh năm Tân Tỵ (1881) tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thi đỗ Cử nhân Hán học ở trường thi Huế năm 1906. Sau đó, ông tham gia hoạt động yêu nước của các nhà Nho trong phong trào Đông Du, Duy Tân… Khi phong trào yêu nước Duy Tân bị thực dân Pháp đàn áp, Nguyễn Bá Trác trốn vào Nam sang Thái Lan, Hồng Kông, Thượng Hải rồi sang Nhật Bản, Trung Quốc… Đây chính là trải nghiệm thực tế để "Hạn mạn du ký" ra đời.

“Hạn mạn du ký” -  một khúc sông trong -0
Sách "Hạn mạn du ký" (2024).

Năm 1914, Nguyễn Bá Trác trở về Hà Nội, làm việc tại Phòng báo chí Phủ Toàn quyền Đông Dương. Năm 1917, ông ra làm chủ bút phần Hán văn của Tạp chí Nam Phong, chủ bút phần Việt văn là Phạm Quỳnh. Bà Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, trong luận án nghiên cứu mang tên "Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong" (Introduction au Nam Phong - Phạm Trọng Nhân dịch, Ý Việt xuất bản, Paris, 1993) đã viết về Nguyễn Bá Trác như sau: "Vào năm 1917, bên cạnh và đối với Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác quả thực đã đóng vai đàn anh, vì tuổi tác, vì danh vị đỗ Cử nhân, và nhất là uy tín của một quá khứ mạo hiểm đã khiến ông nổi danh là lịch duyệt".

Hai năm sau (1919), Nguyễn Bá Trác rời Hà Nội vào Huế làm Tá lý Bộ Học. Từ đây, ông cựu chủ bút Hán văn Nam Phong lần lượt trải qua các chức vụ chốn quan trường: Tuần vũ Quảng Ngãi, Thị lang Bộ Binh, Tổng đốc Thanh Hóa, Tổng đốc Bình Định. Ông mất năm 1945 sau Cách mạng tháng Tám.

Cuộc đời hơn 60 năm của mình, Nguyễn Bá Trác để lại số lượng tác phẩm lớn, gồm cả chữ Hán và Quốc ngữ, văn khảo cứu và sáng tác: Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Hán học văn học khảo, Quảng Ngãi tỉnh chí… Tiếc rằng, đến nay những tác phẩm này hầu như chưa có cơ hội được tái bản trở lại với công chúng.

Lần tái bản này trích in 8 chương (từ chương I đến chương VIII), người giới thiệu đã sử dụng ấn bản "Hạn mạn du ký", được in thành sách của Đông Kinh ấn quán năm 1921. Trong quá trình chế bản, biên tập, "Hạn mạn du ký" tái bản, người tổ chức bản thảo nhận được sự hỗ trợ của nhà nghiên cứu Hán Nôm - Thạc sĩ Lê Huy Hoàng, Cử nhân Ngữ văn Bùi Tiến Đạt…

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.