Miền Tây của lịch sử Việt Nam

Một trong những vùng lịch sử đầy phức tạp, từng thu hút trí trưởng tượng, sự phiêu lưu, mạo hiểm và cả giấc mơ đổi đời của người Việt, người Hoa... chính là miền Tây Nam bộ, một khu vực trải rộng khoảng 15.000 km2 từ Châu Đốc tới bán đảo Cà Mau...

U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường

Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

Lịch sử Việt Nam truyền thống được viết từ các cửa sổ hoàng cung. Đó là những câu chuyện biên soạn, chỉnh sửa và khắc in ở trong hoàng thành. Hiển nhiên, đó là những lịch sử từ trên xuống dưới góc nhìn của nhà nước.

Xã hội con người trong quá khứ rõ ràng là đa dạng hơn rất nhiều, với nhiều góc cạnh, điểm nhìn và các thức các câu chuyện được kể lại. Một trong những vùng lịch sử đầy phức tạp, từng thu hút trí trưởng tượng, sự phiêu lưu, mạo hiểm và cả giấc mơ đổi đời của người Việt, người Hoa... chính là miền Tây Nam bộ, một khu vực trải rộng khoảng 15.000 km2 từ Châu Đốc tới bán đảo Cà Mau.

Giống như miền Tây trong lịch sử nước Mỹ, nơi ẩn giấu nhiều cuộc phiêu lưu, cơ hội, bạo lực và tính năng động xã hội, miền Tây của lịch sử Việt Nam là thiên đường của dân di cư, cướp biển, các hội kín, buôn lậu và tệ nạn xã hội. Không gian này được mở rộng không chỉ khu vực phía Tây sông Hậu mà còn kéo dài tới Kampot, Kompong Som (Cambodia) và vùng duyên hải Rayong, Chanthaburi, Trat... của Thái Lan.

Có 4 yếu tố chịu trách nhiệm cho tình trạng này, đó là:

Thứ nhất là vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên lý tưởng cho một thế giới năng động của những người phiêu lưu bên ngoài vòng pháp luật. Các kênh, rạch, giồng, sình lầy, rừng rậm, hải đảo... của bán đảo Cà Mau, rừng U Minh, Rạch Giá-Kiên Giang, vùng Đồng Tháp Mười và khu vực Hà Tiên-Châu Đốc là những thế giới mà bàn tay của quyền lực nhà nước khó thâm nhập.

Thứ hai là tính chất mở của không gian dân cư, địa chính trị. Vùng đất này chào đón nhiều nhóm cư dân khác nhau với nhiều lí do di cư và tụ hợp trên một không gian đường biên mở đa dạng.

Điều thú vị là đường biên này, từ thế XVII trở thành không gian trung tâm của một trong các không gian kinh tế năng động nhất ở Đông Nam Á và châu Á.

Thứ ba, đa dạng dân tộc, tôn giáo thúc đẩy tính năng động và sự phức tạp của vùng đất này. Lấy tỉnh Sóc Trăng vào năm 1904 làm ví dụ (ảnh 1).

Tại thành phố Sóc Trăng (1904) có 50 người Âu, 771 người Việt, 600 người Hoa và 30 người Ấn (Engelbert 2007). Bản thân người Hoa ở hạ lưu Mekong cũng là một khái niệm phức tạp. Người Hoa tới vào giai đoạn nào? Đi theo đường nào? Và đã hòa nhập tới mức độ nào vào xã hội Việt sẽ quyết định hệ phân loại của họ. Riêng thống kê của người Pháp năm 1904 cho thấy ít nhất có 3 nhóm Hoa. Hoa tới Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, trở thành Minh Hương thì xếp chung với Việt. Người Cambodia gốc Hoa là nhóm thứ hai và người Hoa di cư ở giai đoạn sau là nhóm thứ ba. Những người này lại được phân thành nhiều nhánh theo ngôn ngữ và nguồn gốc di cư.

Thứ tư, sự suy yếu của hệ thống hành chính nhà nước trên khu vực này, dù là người Khmer, Việt hay Xiêm thì đây vẫn là một vùng trũng của quyền lực nhà nước.

Câu chuyện miền Tây gắn với một thời đại chưa xa của lịch sử Việt Nam. Ngày nay cướp biển có vẻ là một khái niệm xa lạ với phần lớn người Việt, tuy nhiên dọc theo đường bờ biển hơn 3.000 km với nhiều vũng vịnh, đầm phá, cửa sông, vùng ngập nước, rừng rậm, các quần đảo... là thế giới của cướp biển và các hoạt động phi pháp. Vào thế kỷ XIX, vùng Giang Bình, các quần đảo ở Hải Phòng, Quảng Ninh, khu vực cửa sông Hồng, duyên hải Thanh-Nghệ, khu vực xung quanh Côn Đảo, vùng biển Hà Tiên-Phú Quốc là các điểm nóng của cướp biển.

Từ Côn Đảo đến Thổ Chu là thế giới hàng hải quan trọng kết nối vùng vịnh Thái Lan với Biển Đông từ thế kỷ XVII-XVIII, tuy nhiên cướp biển và di cư trên khu vực này cũng trở thành nỗi ám ảnh của các chính quyền chúa Nguyễn, Tây Sơn, vương triều Nguyễn, chính quyền thực dân Pháp và sau này là chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Bản thân những tướng lĩnh triều Minh trôi dạt trên biển trước khi tới xin chúa Nguyễn cho khai phá vùng hạ lưu Mekong vào cuối thế kỷ XVII cũng ít nhiều gắn kết hoạt động của mình với bạo lực và cướp biển. Thực tế là họ sẽ tiếp tục bảo kê cho buôn lậu lúa gạo, đánh bạc, thuốc phiện và tàn sát lẫn nhau ngay cả khi đã xác lập dọc theo sông Mekong (Cooke and Li 2004).

Một thương nhân người Hoa khác tới Hà Tiên là Mạc Cửu, người đã tạo dựng sự giàu có và danh tiếng của mình với việc xây dựng sòng bạc. Mạc Cửu sẽ phải cạnh tranh với nhiều mạng lưới người Hoa khác, gồm những người khai mỏ thiếc trên bán đảo Malay và những người Hoa thuộc nhóm Phya Taksin (người sáng lập vương triều Thonburi, Thái Lan). Thực tế, Hà Tiên sẽ bị tấn công bởi nhiều nhóm người Hoa cạnh tranh ở giai đoạn sau.

Cũng chính khung cảnh miền Tây đã giúp Nguyễn Phúc Ánh và gia đình ông thoát cuộc truy lùng của Tây Sơn. Chính các mối liên hệ của ông với thế giới năng động này, từ cướp biển, dân phiêu lưu tới các thương nhân, cha đạo và lính đánh thuê nước ngoài đã từng bước đưa ông tới với quyền lực ở Việt Nam.

Sau khi Việt Nam được thống nhất vào năm 1802, việc quản lí vùng duyên hải này cũng không hề dễ dàng. Biên niên sử Huế thường xuyên ghi chép về cướp biển Chà Và [Java, chỉ cướp biển người Malay]. Điều này buộc Huế phải lập đồn bảo tại Phú Quốc và nhiều hòn đảo khác, cũng như thường xuyên cho hạm đội đi tuần trong vịnh Thái Lan.

Khi người Pháp xác lập hệ thống hành chính tại khu vực này từ nửa sau thế kỷ XIX, miền Tây cũng sẽ làm cho họ lao tâm khổ tứ. Sự gia tăng kiểm soát của họ đối với thuốc phiện, rượu, muối... thúc đẩy buôn lậu và các hoạt động phi pháp và chống đối. Khi người Pháp lập các đồn điền, nhu cầu công nhân gia tăng và các hội kín người Hoa bắt đầu tuyển người và đưa xuống các thuộc địa châu Âu ở phía Nam. Thượng Hải, Quảng Đông, Hải Nam, Hong Kong, Chợ Lớn, Bangkok, Singapore, Penang là các đầu mối của mạng lưới di cư, hội kín, tôn giáo, buôn lậu, cướp biển và buôn bán thuốc phiện.

Chính vì vị trí trung gian của hạ lưu Mekong, các nhóm người Hoa và Việt lợi dụng các tuyến thương mại hàng hải và sự không thống nhất của hệ thống thuộc địa châu Âu để cướp bóc thuyền buôn. Thống đốc Nam Kỳ đã cảnh báo về các băng nhóm có vũ trang tại khu vực miền Tây trong nhiều thập niên. Vào năm 1895 chẳng hạn, các nhóm này chặn cướp các thuyền buôn đi qua đây để vào Chợ Lớn. Người Pháp cũng ghi nhận một cơn lũ của các di cư người Hoa từ Hong Kong sau khi chính quyền Pháp dỡ bỏ việc cấm di cư từ các thuộc địa của Anh. Chỉ trong vòng 2 tháng, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1893, 700 người Hoa đã tới Sóc Trăng. Trong năm đó, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ trở thành điểm nóng của nạn trộm cướp (Engelbert 2007).

Hoạt động của các băng nhóm này cũng gắn chặt với mùa vụ và hoạt động xuất khẩu lúa gạo - là một nguồn thu quan trọng của Nam Kỳ. Ghi chép của chính quyền thuộc địa đề cập tới các cuộc tấn công vũ trang của các nhóm người Hoa vào chợ Ô Môn (Cần Thơ), Bến Tre, Sóc Trăng... và làn sóng bạo lực gia tăng với các cuộc di cư của người Hoa và Việt.

Thuế thuốc phiện ở Nam kỳ (1860-1890), đơn vị; dollars (Nankoe, Gerlus, and Murray 1993).
Thuế thuốc phiện ở Nam kỳ (1860-1890), đơn vị; dollars (Nankoe, Gerlus, and Murray 1993).

Các băng đảng người Việt cũng là những nỗi ám ảnh về an ninh không kém. Tại Rạch Giá vào những năm đầu thế kỷ XX, nhóm vũ trang của Lê Văn Lợi là một mối đe dọa với chính quyền thuộc địa. Những người này khống chế huyện Gò Quao, kiểm soát các con sông và đường thủy và làm cho chính quyền thuộc địa đau đầu.

Việc buôn bán thuốc phiện là một trong các hoạt động đưa lại mối lợi lớn cho cả người Hoa và người Pháp. Một hội quán người Hoa đã đứng ra đấu thầu thuế thuốc phiện 210.181 dollars/năm (giai đoạn 1865-1867). Tới năm 1869, số tiền mà người Hoa trả cho Pháp là 380.181 dollars/năm. Biểu đồ dưới đây cho thấy nguồn thu từ thuốc phiện này (ảnh 2).

Miền Tây Nam bộ nằm ở điểm trung chuyển của các dòng hàng hải này và di cư của người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến, Hong Kong xuống phía Nam. Cũng không phải ngẫu nhiên mà hoạt động của Thiên Địa Hội lại đặc biệt sôi động và làm cho người Pháp lo ngại.

Hoạt động của họ trong những năm 1870-1880 là một mối đe dọa an ninh lớn của chính quyền thực dân cũng như xã hội Nam Kỳ. Thiên Địa Hội là một hội kín tập hợp những người có tư tưởng chính trị phản Thanh phục Minh ở Trung Quốc, song dần dần biến thành các nhóm tội phạm và bạo lực có tổ chức, phân nhánh, di cư, phát triển tại nhiều quốc gia khác nhau.

Tại miền Tây và vùng Chợ Lớn, các hội kín này tham gia vào hoạt động tội phạm có tổ chức ở 3 hoạt động chính là đánh bạc, tổ chức hút thuộc phiện và mại dâm. Điều này làm cho thống đốc dân sự đầu tiên của Nam Kỳ, Le Myre de Vilers phải có chính sách quyết liệt với người Hoa. Để hạn chế quyền lực kinh tế của Thiên Địa Hội, viên chức này dùng độc quyền thuốc phiện của Pháp để thay thế cho việc thầu thuế của người Hoa. Trong 2 năn sau đó, chính sách của Le Myre de Vilers đã gây ra nhiều cuộc nổi dậy và bạo lực tại Sóc Trăng.

Không lùi bước, chính quyền Pháp tiếp tục tấn công vào các nhóm người Hoa bằng việc yêu cầu họ nộp tiền duy trì an ninh. Các hội quán Triều Châu ở Chợ Lớn, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long phải đóng 5.000 đồng Đông Dương, tại Sóc Trăng lầ 3.000. Riêng tại làng Tân Quới, số tiền phạt là 2.000 vì hoạt động của người Hoa được chứng minh gắn với Thiên Địa Hội. 

Tuy nhiên, người Hoa vẫn sẽ tiếp tục là một thế lực lớn trong các hoạt động kinh tế phi pháp và miền Tây vẫn là một điểm nóng trong suốt thời kỳ thuộc địa, cho tới khi Ngô Đình Diệm huy động quân đội trấn áp các giáo phái, các nhóm quân sự địa phương và các hoạt động kinh tế bất hợp pháp của người Hoa, Việt...

Một điểm đáng chú ý khác nữa của không gian miền Tây này chính là địa bàn sinh trưởng của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và thực hành tư tưởng đã khởi phát như Bửu Sơn Kỳ Hương, hội kín Nam Kỳ, Hòa Hảo, hay sự xuất hiện của Bà Chúa Xứ núi Sam... Sự sôi động kinh tế, văn hóa, tộc người... đã làm nảy nở sự sôi động tôn giáo và các ý tưởng chính trị vùng miền. Đây là điều quan trọng mà bất cứ người quản trị nhà nước nào cũng nên hiểu rõ trước khi xác lập quyền lực hành chính lên mảnh đất này. 

Cuối cùng, nếu như nhiều độc giả biết đến American West là khái niệm chỉ vùng viễn Tây rộng lớn, dân thưa, với vàng, giấc mơ, tính năng động của vùng biên và bạo lực xã hội thì đã đến lúc cần có những góc nhìn mới về một “miền Viễn Tây” của lịch sử Việt Nam - nơi cũng chứa đầy nhưng giấc mơ, tính năng động và các cuộc phiêu lưu, nơi đã làm đau đầu các nhà cai trị từ chúa Nguyễn cho tới chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Không phải ngẫu nhiên mà nhà nước Việt Nam thành lập riêng một cơ quan, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ. Cũng như quản trị nhà nước với vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, lịch sử và di sản lịch sử sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc định hình mọi chính sách, chủ trương đối với các khu vực này.

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.