Nhà văn Nguyễn Quang Lập: Viết về làng

"Làng ta có một anh hùng", NXB Kim Đồng, quý I/2025 của nhà văn Nguyễn Quang Lập, ra mắt bạn đọc ở thời điểm không thể có ý nghĩa hơn. Đó là kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025; sắp tới là kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9).

Người anh hùng của “làng ta”

"Làng ta" ở đây làng Phan Long,  một ngôi làng nhỏ ven sông Gianh. Làng được lập sau cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627-1775). Theo như nhà văn Nguyễn Quang Lập cho biết thì khoảng sau năm 1672, nghĩa là gần 350 năm. Nhà văn dùng hai chữ "làng ta", giản dị như làng còn xác tín đấy chính là cố thổ của mình.

Người "anh hùng" ở đây là liệt sĩ Nguyễn Tiến Nhẫn, sinh năm 1929, hy sinh ngày 16/8/1948, lúc 19 tuổi. "Từ năm mười một, mười hai tuổi anh thường biến mất trong các cuộc chơi. Lúc đầu em giận lắm. Dần dần cũng hiểu ra. Phải có việc gì quan trọng lắm anh mới trốn em, không cho ai biết mình đi đâu. Em đã tự mình tìm ra bí mật". Những dòng chữ này ở trang 49 "hé" ra nhiệm vụ bí mật của nhân vật "anh" - Nguyễn Tiến Nhẫn là làm điệp báo cho Việt Minh trong vùng bị Pháp tạm chiếm.

nhà van nguy%3fn quang l%3fp.jpg -1
Nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Bối cảnh của "Làng ta có một anh hùng" đưa người đọc trở lại bối cảnh của những năm đầu trước trong và sau Cách mạng tháng Tám. Với Phan Long, dù "Làng mình vẫn yên ổn. Phố Chợ vẫn sầm suất", nhưng Việt Minh đã xây dựng được cơ sở, tổ chức nhiều hoạt động bí mật và cũng đã bị khủng bố, bắt bớ. Mặc dù đang ở độ tuổi "Khi xưa đôi ta bé ta chơi. Bang, bang", nhưng Nguyễn Tiến Nhẫn đã được tổ chức Đảng cơ sở giao nhiệm vụ nhận tài liệu, thư báo của Việt Minh và nhiều công tác bí mật khác trong vùng địch chiếm.

"Chú bé loắt choắt" (cách gọi của nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ "Lượm") Nguyễn Tiến Nhẫn lúc thì làm liên lạc, lúc thì được cài cắm vào các quán ăn và các quán cà phê trong vùng, nơi bọn lính khố xanh, khố đỏ của Pháp hay lân la nhậu nhẹt, phiên dịch cho họ để dò la tin tức, khai thác tình báo.

Ở Nguyễn Tiến Nhẫn có nhiều phẩm chất của một tình báo viên trong "lòng địch" sáng dạ, biết tiếng Pháp, giỏi hóa trang, thông thuộc địa hình để "đưa cán bộ từ ngoài Bắc vào". Anh thông minh, trí nhớ tốt "Tài nhớ của anh khó ai bì. Chú Vũ kể, ngày đó liên lạc truyền chỉ thị bằng miệng, nhiều chỉ thị cả trang A4 anh thuộc không sót một dấu phẩy. Một tuần sau cán bộ muốn nghe lại chỉ thị, anh đọc lại y nguyên" (trang 74).

Phong trào cách mạng ở Quảng Bình nói chung và Phan Long nói riêng ngày càng sôi động nhưng nhiều thử thách, Nguyễn Tiến Nhẫn ngày càng trưởng thành từ điệp báo cho Việt Minh, trở thành tình báo viên cho Công an Quảng Bình từ những ngày đầu "trứng nước". Từ làng Phan Long, anh bước ra Chiến khu Trung Thuần, mở rộng hoạt động, theo yêu cầu của tổ chức. "Mười một, mười hai tuổi từng làm liên lạc viên cho chú Cổ Kim Thành trực tiếp chỉ đạo. Lên mười bốn, mười lăm tuổi từng làm liên lạc viên cho chú Vũ, là chú Đồng Sĩ Nguyên, Mười sáu tuổi anh Nhẫn làm điệp báo cho Trung đoàn 247 của chú Trần Quý Hai", và lập được nhiều chiến công xuất sắc.

Trong một lần, do đường dây bị lộ, Nguyễn Tiến Nhẫn bị địch bắt. Đó là ngày 24/7/1948.  Dù bị tra tấn dã man, sĩ quan phòng Nhì Pháp dùng nhiều thủ đoạn tra khảo nhưng Nguyễn Tiến Nhẫn kiên quyết không khai.

Bộ đội ta cũng tổ chức trận đánh đồn Hoàn Lão nhằm mục đích giải cứu Nguyễn Tiến Nhẫn, nhưng bất thành do trước đó anh đã bị địch đưa vào giam ở thị xã Đồng Hới. Và rồi, Nguyễn Tiến Nhẫn bị Pháp đưa ra xử bắn công khai, trước cả vạn người, để uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân. Lúc đó anh mới 19 tuổi, sau này được công nhận là Liệt sĩ.

 Nguyễn Tiến Nhẫn không chỉ mưu trí, dũng cảm, lập được nhiều thành tích, mà còn là thiếu nhi có trái tim nhân hậu, tham gia nhiều hoạt động của đội Hướng Đạo, vận động gia định ở Phố Chợ có điều kiện cứu đói khi gặp đoàn người  từ Nghệ An tha lương lả bên đường, sang cả làng Thổ Ngọa bên cạnh cứu đói, đến mức khi trở về nhà anh cũng suýt chết đói. Đối với các thế hệ người dân làng Phan Long, Nguyễn Tiến Nhẫn xứng đáng anh dùng, mãi mãi là người anh hùng.

Viết để trả nghĩa “làng ta”

Dòng chảy sự kiện trong tác phẩm được đặt trên nền hồi ức về "Những chuyện làng mình - chợ Ba Đồn, sông Gianh và Lòi Cát. Chuyện của anh, của em, của chúng mình, của ba mạ, của người làng và bạn bè". Đó còn là tình cảm anh em lớn lên bên nhau của "cặp đôi Kiều Nguyệt Lê - Lục Văn Nhẫn", nhân vật "em" kể chuyện trong tác phẩm có tên là Lê và Nguyễn Tiến Nhẫn.

bìa tác ph%3fm.jpg -0
Bìa cuốn “Làng ta có một anh hùng” của nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Phan Long là một làng cổ, bản sắc văn hóa và giàu truyền thống cách mạng. Hòa bình lập lại mới biết, hóa ra chín phần mười người làng Phan Long theo Việt Minh. Hóa ra hai quán Phở Tới, Nhậu đê của ông Bếp Tới là nơi in truyền đơn, may cờ đỏ. Hóa ra dưới gốc cây bàng trước nhà ông Vĩnh Tường là nơi cất giấu vũ khí của Việt Minh. "Chú Thành làm nghề bốc vác ở bến chợ ga tàu, hiền lành nhu mì, suốt ngày không nói một tiếng, hóa ra là lãnh đạo Việt Minh đầu huyện, đầu tỉnh. Chú Vũ bán dao, kéo, rựa ở chợ, vừa bán vừa ngủ, ngáy vang cả đình chợ hóa ra là chủ lực của huyện" (trang 99).

Làng Phan Long ấy, gần gũi thân thiết nhau, họ hàng bà con gần như cả làng. Nhưng việc ai nấy biết, ai theo Việt Minh ai không tuyệt chẳng ai nói ra.

Như nhà văn Nguyễn Quang Lập nói ở Lời nói đầu,  ông tái hiện câu chuyện "Làng ta có một anh hùng" bằng thủ pháp pha trộn giữa hư cấu là phi hư cấu. Nhà văn đã dẫn dắt người đọc trở về làng Phan Long của thị trấn Ba Đồn cách nay trên dưới tám chục năm, với biết bao cảm xúc chân thành, tự hào về "làng ta".

Bạn đọc gặp lại trong tác phẩm các nhân vật lịch sử như "Chú Cổ Kim Thành" sau này là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, Phó bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên, đại biểu Quốc hội các khóa IV,V,VI. "Chú Vũ" trong tác phẩm là Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, khi đó phụ trách quân sự huyện Quảng Trạch, giai đoạn 1940 - 1945. "Chú Trần Quý Hai" sau này là Trung tướng Trần Quý Hai, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; lúc đó Tư lệnh chiến trường Bình Trị Thiên. Ông Lại Văn Ly sau này là Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình vốn là đồng đội cùng tổ điệp báo với Nguyễn Tiến Nhẫn.

Ngoài ra còn có nhiều cán bộ tiền khởi nghĩa ở vùng Ba Đồn - Quảng Trạch trước đây, như các ông, bà: Phan Văn Trinh, Hồ Danh, Hoàng Cần, Nguyễn Phi Phổ, Nguyễn Thị Lợi, Nguyễn Hữu Mường…

Đọc "Làng ta có một anh hùng" còn thấy quá khứ, hiện tại và tương lai gặp nhau trong những khoảnh khắc đồng hiện, những bí mật bị chôn giấu sẽ dần lộ diện qua "dòng chảy ký ức" của nhân vật "em" (tức là Lê), nhân vật thời "Anh thích lăng xăng bang, bang / Em cũng theo anh bang, bang" cùng lớn lên bên nhau, yêu nhau thời tuổi ô mai.

Nguyễn Quang Lập sử dụng thành thạo, uyển chuyển phương ngữ, tên đất, tên người, ca dao cũ của làng Phan Long còn lưu lại trong dân gian vào tác phẩm tạo nên không gian văn hóa đậm bản sắc Quảng Bình.

Vĩ thanh

Nhà văn Nguyễn Quang Lập vốn là kỹ sư vô tuyến điện, cựu chiến binh; là nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên của văn học hiện đại sau đổi mới. Ông còn là một nhà biên kịch sân khấu và điện ảnh tài năng.

Để xây dựng nên tác phẩm, ông đã vượt qua nhiều khó khăn để khai thác tư liệu, gặp gỡ người làng, đồng đội của Nguyễn Tiến Nhẫn. Bạn đọc mê văn chương Nguyễn Quang Lập hẳn không quên được văn phong hồn nhiên, lôi cuốn; đặc biệt sự khéo léo khi sử dụng phương ngữ, "khẩu văn làm ướt lòng người hiểu chuyện". Do vậy, 16 chương, gồm 250 trang sách uyển chuyển, giàu hình ảnh, hấp dẫn; sự thật gần gũi, lay động, gắn kết tâm hồn con người.

Tiểu thuyết lịch sử “Làng tôi có một anh hùng” là một giải cấu trúc liên văn bản, kiến giải theo dòng chảy lịch sử, văn hóa... xuyên thấm của một nhà văn tài năng. Tiểu thuyết lịch sử về người anh hùng, liệt sĩ nhỏ tuổi, tác phẩm dự Giải thưởng văn học Kim Đồng lần thứ nhất (2023 - 2025) cũng là món quà không thể có ý nghĩa hơn của nhà văn dành tặng bạn đọc thiếu nhi cả nước.

Gấp lại trang cuối cuốn sách, không chỉ bồi hồi cùng ký ức lịch sử mà còn thấm thía thêm câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do". Đây là giá trị tư tưởng của tác phẩm.

Ngô Đức Hành

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.